Kim Sơn Bảo Thắng Tự tọa lạc gần đỉnh Fansipan, được xây dựng từ cuối năm 2015 và chính thứchoàn thiện, khánh thành sau hai năm triển khai thi công (tháng 1/2018).Từ Kim Sơn Bảo Thắng Tự đi dọc theo con đườngLa Hán xuống là Đại tượng Phật A Di Đà cao 21,5m, được đúc bằng đồng theo kỹ thuật hiện đại nhất hiện nay. Đây là bức tượng Phật bằng đồng cao nhất Việt Nam tới thời điểm này.Chia sẻ về quá trình thi công công trình kiến trúc tâm linh này, giáo sư Hoàng Đạo Kính bày tỏ trên báo điện tử ngoisao.net khi cho rằng đây thực sự là một kỳ công.Cũng theo lời Giáo sư, đã có hàng chục ngàn tấn đá nguyên khối được đưa đến để xây dựng các chùa, bảo tháp, tháp chuông và hàng ngàn bậc đá uốn theo từng thế đất, hàng ngàn m3 gỗ, hàng vạn viên ngói phục chế.Tất cả vật liệu đã được vận chuyển thủ công bằng cáp công vụ, bằng tay và sức người lên đỉnh, trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt khi mà chỉ đứng ở trên đỉnh núi đó đã là khó rồi.Đặc biệt, Đại tượng Phật bằng đồng được đúc theo kỹ thuật thi công đặc biệt nhất, lần đầu tiên được ứng dụng tại Việt Nam. Pho tượng này không được đúc thông thường mà được tạo thành bởi hàng ngàn vạn tấm đồng dày 5mm gia công tại chỗ, ốp trên một kết cấu khung sắt có thể tích gần 1000m3, báo Tiền phong đưa tin.Ngay trong ngày khai quang, khoảng 500 phật tử ở 3 miền đất nước đã đến Kim Sơn Bảo Thắng Tự tham gia đại lễ cầu nguyện quốc thái dân an trên đỉnh Fansipan, Sapa, Lào Cai.Hiện nay, quần thể du lịch tâm linh này đã nhận được sự quan tâm của du khách khắp nơi trên cả nước. Bất chấp tiết trời giá lạnh ở Lào Cai, nhiều người đã đổ xô đến đây để được tận mắt chiêm ngưỡngcông trình kỳ công tọa lạc trên đỉnh Fansipan hùng vĩ.
Nguồn: Thư viện Hoa sen - https://thuvienhoasen.org
16/08/2017 11:45 SángCác nhà nghiên cứu từ Học viện Hoa Kỳ đang nghiên cứu về những nhà sư ở Bylakuppe để mở các bí mật của tâm thức.Khoảng 1 giờ chiều tại Đại học Tu viện Sera Jey ở Bylakuppe, huyện Mysuru, bang Karnataka, Ấn Độ. Trên khắp khuôn viên rộng lớn, các nhà sư trong bộ y phục màu nâu sẫm đang thiền định, một số đang nghiên cứu, trong khi một số người khác đang tham gia vào một cuộc thảo luận.Tất cả các hoạt động dường như vẫn diễn ra bình thường. Nhưng bên trong một phòng thí nghiệm nhỏ tại Trung tâm Khoa học Sera Jey, có một số hoạt động bất thường. Một nhóm các nhà nghiên cứu khoa học về các Nhà sư, trụ sở tại Hoa Kỳ, và Đại học Kent State (tiểu bang Ohio) đang theo dõi chặt chẽ các nhà sư khi họ có một cuộc thảo luận nghiêm túc về chánh niệm.“Chúng tôi ở đây để lập bản đồ hoạt động não của các nhà sư Phật giáo khi họ tranh luận. Chúng tôi muốn hiểu những gì xảy ra trong não của họ và khi các nơ-ron đồng bộ hóa”, Bryce Johnson, chủ tịch và giám đốc điều hành của Khoa học về các Nhà sư nói.Đối với các nhà sư Tây Tạng, tranh luận không chỉ là một bài tập về mặt học thuật. Đó là một cách để hiểu được bản chất của thực tế và đạt được kiến thức, thông qua việc phân tích cẩn thận các hiện tượng thế giới thực. Ông Ngawang Norbu, thành viên chính của Trung tâm Khoa học Sera Jay, nói: “Một mục tiêu quan trọng là áp dụng kiến thức vào các tình huống thực tế. Đức Dalai Lama thường nhấn mạnh rằng việc học không hữu ích bằng ứng dụng kiến thức thực tiễn”.Được trang bị với những chiếc mũ trắng có các miếng điện cực để chụp lại các hoạt động của não, người thách thức (đứng) và người biện hộ (ngồi) tranh luận về những chủ đề từ tánh không đến vũ trụ học trong khi máy tính ghi lại những thông tin điện não đồ (EEG). EEG giúp nghiên cứu hoạt động của não bằng cách ghi lại hoạt động lặp đi lặp lại của một nơ-ron, được gọi là dao động thần kinh.“Các nhà sư nhìn nhận điều này như là cách để tăng cường Phật học, đây là một phần của truyền thống Nalanda cổ đại… Dữ liệu của chúng tôi cho thấy khi cuộc tranh luận tiến triển, mức độ tập trung của họ tăng lên”, Johnson nói.Có 9 nhà sư được chọn cho hoạt động lập bản đồ trong suốt thời gian nghiên cứu 15 ngày, kết thúc vào ngày 12-8-2017. Thông thường, người thách thức đặt câu hỏi và người biện hộ trả lời họ. Một khi vị ấy hoàn thành câu hỏi của mình, người thách thức vỗ tay một cách nhanh chóng – biểu hiện của từ bi (bên tay phải) và trí tuệ (trái tay) – và dẫm chân trái của mình. Người thách thức sau đó giơ cánh tay trái của vị ấy ra và sử dụng tay phải để nâng vòng tràng hạt quanh bên trái.“EEG chụp được những khoảnh khắc trong bộ não của các nhà sư khi họ tham gia vào cuộc tranh luận. Khi nào các nơ-ron đồng bộ? Chất lượng sự chú ý trong quá trình tranh luận là gì? Nếu có sự đồng bộ giữa 2 nhà sư, khi nào thì điều đó xảy ra? Đây là những gì chúng ta đang tìm hiểu”, David M Fresco, giáo sư khoa học tâm lý học tại Đại học Kent State (tiểu bang Ohio) nói.Bài tập cũng nhằm mục đích tìm hiểu sự khác biệt trong hoạt động não của các nhà sư cao tuổi và trẻ tuổi hơn. Các nhà nghiên cứu sẽ sớm so sánh dữ liệu đọc EEG để hiểu được hiện tượng tranh luận.Năm 2004, các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Wisconsin đã nghiên cứu các nhà sư Tây Tạng trong trạng thái thiền định và tìm thấy sóng gamma – các mức sóng hoạt động điện có tần số cao nhất trong các nơ-ron. Các mức độ này được thấy ở một số nhà sư ngay cả khi họ không thiền định, giả thuyết rằng những năm thiền định đã gây ra tính khả biến thần kinh. Các nghiên cứu tiếp theo đã chỉ ra rằng dòng máu chảy vào não cao hơn trong số những người thiền định lâu dài trong khi họ cũng có chất xám lớn hơn ở một số khu vực liên quan đến việc điều chỉnh tâm trí.“Mục tiêu lâu dài là làm cho Khoa học Phật giáo, khoa học về tâm trí của truyền thống Nalanda cổ đại, có thể tiếp cận được lớn hơn với nhân loại bằng cách sử dụng khoa học hiện đại như là một phương tiện, chủ yếu để nâng cao giá trị và lòng trắc ẩn con người theo cách thế tục”, Ngawang Norbu, người đứng đầu Trung tâm Khoa học Sera Jey, nói.Theo giacngo.vn
Copy to http://www.thegioiphatgiao.vn
06/11/2017 7:18 SángTọa lạc bên trong khuôn viên chùa Đại Từ Ân (大慈恩寺), thuộc ngoại thành thành phố Tây An (西安), tỉnh Thiểm Tây (陕西), tháp Đại Nhạn (大雁塔) là một trong những kiến trúc cổ nổi tiếng nhất Trung Quốc và được xem là một biểu tượng của tỉnh Thiểm Tây.Tọa lạc bên trong khuôn viên chùa Đại Từ Ân (大慈恩寺), thuộc ngoại thành thành phố Tây An (西安), tỉnh Thiểm Tây (陕西), tháp Đại Nhạn (大雁塔) là một trong những kiến trúc cổ nổi tiếng nhất Trung Quốc và được xem là một biểu tượng của tỉnh Thiểm Tây. Xây dựng vào năm 652 dưới triều hoàng đế Cao Tông (高宗628-683) nhà Đường (618-907), ngôi tháp này ban đầu đóng chức năng làm nơi lưu trữ những kinh sách Phật giáo mà ngài Huyền Trang đã mang về từ Ấn Độ. Ngài Huyền Trang khởi hành từ Trường An (nay là Thiểm Tây), hành trình dọc theo Con đường tơ lụa, đi qua nhiều quốc gia và cuối cùng đến Ấn Độ vào năm 630. Sau 17 năm lưu trú ở Ấn Độ, ngài trở về lại Trung Quốc, mang theo nhiều tượng Phật, xá-lợi và 657 bản kinh Phật khác nhau. Sau khi được hoàng đế Cao Tông đồng ý, ngài Huyền Trang, bấy giờ là vị trụ trì đầu tiên của chùa Đại Từ Ân, đã chỉ đạo xây dựng một ngôi tháp bên trong khuôn viên chùa. Sau đó với sự hỗ trợ của triều đình, ngài đã thỉnh mời 50 vị dịch giả đến đây để chuyển dịch kinh sách Phật từ tiếng Sanskrit sang Hán ngữ, tổng cộng có 1.335 tập được hoàn thành, đánh dấu một kỷ nguyên mới trong lịch sử dịch thuật Phật giáo.Về lý do tại sao ngôi tháp này được gọi là Đại Nhạn có một giai thoại như sau. Chuyện kể rằng vào một ngày nọ, chư Tăng trong một ngôi chùa vốn không có truyền thống ăn chay, đã không mua được thịt cho bữa ăn ngày hôm đó. Khi nhìn thấy một đàn nhạn bay trên trời, một vị Tăng tự nhủ: “Hôm nay chúng ta không có thịt. Tôi mong Bồ-tát từ bi sẽ ban cho chúng ta một ít”. Ngay lúc ấy, con nhạn đầu đàn bị gãy cánh và rơi xuống đất. Các sư tăng vô cùng hoảng sợ và nghĩ rằng Bồ-tát thể hiện lòng mong muốn của ngài là họ cần phải từ bi hơn đối với chúng sanh. Do đó họ xây dựng một ngôi tháp ở nơi con nhạn rơi xuống và chấm dứt việc ăn thịt. Và theo đó ngôi tháp này được đặt tên là tháp Nhạn. Tuy nhiên, sự thực ngôi tháp này được đặt tên như vậy bởi vì kiến trúc của nó được mô phỏng từ một ngôi tháp có cùng tên ở Ấn Độ. Để phân biệt với ngôi tháp nhỏ hơn có cùng kiến trúc được xây dựng về sau tại chùa Tiến Phúc (荐福寺) ở Trường An, người ta gọi nó là tháp Đại Nhạn.Tôn tượng ngài Huyền TrangNgôi tháp này ban đầu có chiều cao 60 mét với năm tầng, nhưng về sau nó được bổ sung thêm hai tầng và có chiều cao tổng thể là 64 mét. Hình ảnh ngôi tháp bảy tầng về sau đi vào tục ngữ Trung Quốc qua câu nói: “Cứu nhân nhất mệnh thắng tạo thất cấp phù đồ” (救人一命勝造七級浮屠: Cứu một mạng người hơn hẳn xây ngôi tháp bảy tầng). Nhìn ở bên ngoài, ngôi tháp có kiến trúc hình kim tự tháp, đơn giản nhưng uy nghi, và nó là một kiệt tác của kiến trúc Phật giáo. Ngôi tháp được xây bằng gạch nhưng không dùng đến xi-măng hay vôi vữa. Loại kiến trúc rầm chia trong kiến trúc truyền thống Trung Quốc cũng được sử dụng trong xây dựng.Bên trong ngôi tháp, những bậc thang theo hình xoắn ốc dẫn lên những tầng trên, và ở đó ta có thể ngắm toàn cảnh thành phổ Tây An từ những cửa sổ ở bốn mặt tháp. Trên các bức tường được khắc chạm những bực tượng Phật mà được cho là do họa sĩ nổi tiếng đời Đường là Diêm Lập Bổn (閻立本600-673) thực hiện. Những bức tượng đá thể hiện sự thiện xảo trong điêu khắc, và hiện được xem là những nguồn tham khảo quan trọng cho việc nghiên cứu về hội họa và điêu khắc đời Đường. Vào đời nhà Đường, mọi thí sinh trúng tuyển – những người đỗ những kỳ thì do triều đình tổ chức, phải trèo lên tháp Đại Nhạn viết một bài thơ và chữ viết lên đó. Nghi thức này tượng trưng cho việc thăng tiến sự nghiệp trong tương lai. Hình thức viết thơ và đề chữ của những thí sinh trúng tuyển của các kỳ thi triều đình tiếp tục cho đến triều Minh. Những bài thơ và các bản chữ viết này tồn tại cho đến ngày nay.Tại hai mặt cửa Nam của tháp, ở đó dựng hai tấm bia do nhà thư pháp nổi tiếng đời Đường là Trữ Toại Lương (褚遂良) viết, nhưng nội dung của bia do hai hoàng đế Đường Thái Tông và Đường Cao Tông soạn, để tán thán những kỳ tích mà ngài Huyền Trang đã thực hiện.Quần thể ngôi chùa mà ở đó tháp Đại Nhạn tọa lạc là một khu vườn tuyệt đẹp với những kiến trúc ấn tượng. Mặc dù bị hủy hoại và trùng tu nhiều lần, và hầu hết những khu nhà trong quần thể chùa Đại Từ Ân được xây vào thời Thanh, nhưng những công trình này đều mang kiến trúc đời Đường – thời kỳ ngôi chùa được thành lập. Quần thể ngôi chùa được xây dựng dọc theo một trục chính, với những công trình đối xứng hai bên. Bên trong ngôi chính điện thờ ba tôn tượng Phật, tượng trưng cho ba hóa thân của Đức Phật. Bức tượng ở giữa là Pháp thân, bức phía Tây là Báo thân và bức phía Đông là Ứng thân. Ngoài ra trong quần thể ngôi chùa còn lưu giữ nhiều cổ vật xưa.Phía Bắc của tháp Đại Nhạn có một đài nhạc nước rất lớn. Cấu trúc của đài nhạc nước này kết hợp giữa những yếu tố truyền thống và hiện đại. Viếng thăm nơi này cần đến vào buổi tối, khi toàn thể khu vực này được thắp đèn. Phía Nam của tháp Đại Nhạn là quảng trường Huyền Trang, nhân vật gắn liền với ngôi chùa này. Gần quảng trường Huyền Trang là Đại Đường bất dạ thành (大唐不夜城) – một khu tổ hợp với nhiều chức năng khác nhau.Tháp Đại Nhạn là danh lam nổi tiếng nhất của thành phố Tây An, và là một địa chỉ không nên bỏ qua khi ta có dịp viếng thăm thành phố này. Viếng thăm nơi này, ngoài việc thưởng lãm một ngôi chùa cổ có kiến trúc và cảnh quan đẹp, đây cũng là dịp cho chúng ta tìm hiểu và ôn lại hành trạng của một nhân vật nổi tiếng của Phật giáo, đó là ngài Huyền Trang. Nguyễn ĐăngTheo Nguyệt San Giác Ngộ
Copy to http://www.thegioiphatgiao.vn
02/02/2018 2:21 ChiềuMới đây, đại diện BTC công chiếu bộ phim tài liệu về Thiền sư Thích Nhất Hạnh tại Việt Nam, đã chính thức công bố ngày ra mắt phim.Theo đó, hồi giữa tháng trước, bộ phim Walk with me với tựa tiếng Việt là Bước chân an lạc,nói về một cộng đồng các nhà sư và chư Ni Phật giáo đã cống hiến đời mình để làm chủ được nghệ thuật chánh niệm, với vị thầy nổi tiếng thế giới Thích Nhất Hạnh, đã được cấp giấy phép trình chiếu tại Việt Nam.Walk with me – poster phim khi được công chiếu tại Thái Lan – Ảnh: Quảng ĐiềnThông tin với báo giới, đại diện BTC cho biết, bộ phim sẽ chính thức có 3 buổi ra mắt công chúng tại Sài Gòn, Hà Nội và Đà Nẵng, cụ thể như sau: tại TP.HCM: Thứ tư (28-2), lúc 18 giờ, tại rạp BHD Star Cineplex – Bitexco; tại Đà Nẵng: Thứ bảy (3-3), lúc 18 giờ, tại rạp Lotte Đà Nẵng; Hà Nội: Thứ bảy (10-3), lúc 18 giờ, tại Rạp BHD Star Cineplex – Phạm Hùng.Được biết, sau ba ngày ra mắt giới thiệu phim kể trên, lịch trình cụ thể công chiếu rộng rãi tại các rạp trên toàn quốc, sẽ được BTC sắp xếp và công bố sau. Hiện tại, quý Phật tử cũng như khán giả quan tâm có thể đặt vé trước, bằng hình thức trực tuyến qua trang chủ của cụm rạp BHD Star Cineplex, giá vé niêm yết được phía cụm rạp BHD đưa ra là 60.000-70.000đồng/vé và cuối tuần 90.000-100.000 đồng/vé.
| Walk With Me với độ dài 88 phút, là bộ phim tài liệu nói về đời sống và sự cống hiến của cộng đồng Tăng sĩ Phật giáo Làng Mai dưới sự hướng dẫn, chỉ dạy của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, nổi bật sự chánh niệm trong thiền định. Bộ phim do hai đạo diễn Max Pugh và Marc J.Francis kỳ công thực hiện trong 5 năm, và đã được trình chiếu ở nhiều nơi (dự kiến được công chiếu tại Việt Nam trên hệ thống rạp BHD từ cuối năm ngoái).Theo tác giả người Mỹ, dịch giả, biên tập viên, giáo viên và nhà thơ sống ở San Francisco, một trong những cố vấn quốc tế của kênh Phật giáo, trang web tin tức của Phật giáo Malaysia và hiện đang làm việc cho tờ Tricycle: The Buddhist Review – ông Gary Gregory Gach – Walk With Me không chỉ là bộ phim diễn tả chánh niệm, mà đó là sự trải nghiệm trực tiếp, đi thẳng vào bên trong những gì gọi là chánh niệm.Nhân vật danh dự của Walk With Me là Thiền sư Thích Nhất Hạnh, đã có những lời nhắn nhủ đến các rạp chiếu phim về việc hoán đổi bối cảnh rạp thành các thiền đường – ông Gary Gregory Gach nói và lý giải – sở dĩ tôi gọi “nhân vật danh dự” bởi vì sự hiện diện của Thiền sư đại diện cho cả một cộng đồng được yêu mến, do chính Thiền sư thiết lập nên và duy trì đến nay, không chỉ riêng ở Hoa Kỳ mà trên toàn thế giới, với cái tên đặc biệt: Làng Mai. |
Giao HảoTheo GNO
Copy to http://www.thegioiphatgiao.vn
published by tvtuquang on Sun, 01/22/2012 - 10:16
Hòa thượng húy là Trần Hữu Phước, pháp danh Thích Thanh Từ, sau đổi lại húy là Trần Thanh Từ. Sinh ngày 24 tháng 07 năm Giáp Tý (1924), tại ấp Tích Khánh, làng Tích Thiện, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Vĩnh Long).
Thân phụ của Hòa thượng húy Trần Văn Mão, từ nhỏ theo nghiệp Nho, giữ nếp sống thanh bần. Cụ ông theo đạo Cao đài, lập gia đình hơi muộn. Thân mẫu của Hòa thượng húy Nguyễn Thị Đủ quê làng Thiện Mỹ, dòng Thanh Bạch, quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ. Cụ bà chân chất hiền lành, suốt đời tận tụy hy sinh vì chồng vì con.Hòa thượng sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh khó khăn nghèo túng, nhưng Người đã nổi bật những nét riêng từ thuở ấu thơ: trầm mặc, ít nói, thích đọc sách, có chí xuất trần và đặc biệt rất hiếu thảo với Cha Mẹ. Khoảng năm 9 tuổi, nhân theo Cụ ông lên Mốp Văn, Long Xuyên thọ tang người Bác thứ ba, Hòa thượng được đến chùa Sân Tiên trên núi Ba Thê cúng cầu siêu cho Bác. Duyên xưa gặp lại, nghe tiếng chuông chùa ngân dài giữa khoảng thinh không cô tịch, Hòa thượng rúng động như có một nỗi niềm giao cảm tự bao giờ. Bất thần Người xuất khẩu thành thơ:Non đảnh là nơi thú lắm ai,Đó cảnh nhàn du của khách tài.Tiếng mõ công phu người tỉnh giấcChuông hồi văng vẳng quá bi ai!Có thể nói rằng chí xuất trần của Hòa thượng nổi dậy kể từ đây. Sớm chìm nổi theo dòng đời và nhất là sống trong thời loạn lạc, Hòa thượng càng thấm thía, càng đau xót nỗi thống khổ của con người. Chí xuất trần của Hòa thượng vì thế càng trở nên mãnh liệt hơn và Người luôn ôm ấp một tâm niệm “ Nếu tôi không thể làm một viên linh đơn cứu tất cả bệnh của chúng sanh, ít ra cũng là một viên thuốc bổ giúp cho người bớt khổ.” Từ dạo đó trái nhân duyên đã chín muồi, cuộc đời của Hòa thượng rẽ sang một con đường sáng.Ngày 15 tháng 07 năm Kỷ Sửu 1949, sau ba tháng công quả tại chùa Phật Quang, Hòa thượng được Tổ Thiện Hoa chánh thức cho xuất gia với pháp danh là Thanh Từ. Thế là ước nguyện của Người đã được thành tựu. Từ đây Hòa thượng siêng năng theo Tổ công phu bái sám, vừa học giáo lý, vừa dạy trẻ em. Ngoài ra còn phụ trông nom coi sóc mấy chục chú Tiểu trong chùa. Công việc tuy nhiều, song Hòa thượng luôn để tâm học Giáo điển.Năm 1949 -1950, Hòa thượng theo học lớp Sơ đẳng năm thứ ba tại Phật Học Đường Phật Quang. Đến năm 1951, Hòa thượng bắt đầu học lên Trung đẳng.Một khuya nọ, nhân đọc Kinh Lăng Nghiêm đến chỗ Phật chỉ Tôn giả A Nan nhận ra bản tâm chân thật của chính mình qua tánh thấy, tánh nghe, bất giác Hòa thượng xúc động rơi lệ. Phải chăng đây là dấu hiệu cho biết chủng duyên Phật Pháp nhiều đời của Người đã bắt đầu nẩy mầm?Cũng trong năm nầy chùa Phật Quang bị binh biến, Tổ Thiện Hoa phải dời Tăng chúng lên chùa Phước Hậu, Hòa thượng cũng được theo và thọ giới Sa Di tại đây do Tổ Khánh Anh làm Hòa thượng Đàn đầu.Năm 1953 Hòa thượng theo Bổn sư là Tổ Thiện Hoa lên Sài gòn, tiếp tục học lớp Trung đẳngtại Phật Học Đường Nam Việt chùa Ấn Quang. Tại đây, Hòa thượng được thọ giới Cụ túc do Tổ Huệ Quang làm Hòa thượng Đàn đầu.Từ năm 1954 -1959, Hòa thượng học Cao đẳng Phật học tại Phật Học Đường Nam Việt. Những vị đồng khóa cùng ra trường với Hòa thượng như quí Ngài Huyền Vi, Thiền Định, Từ Thông, ... Như vậy là ngót mười năm Hòa thượng đã trải qua hai năm Sơ đẳng, ba năm Trung đẳng, bốn năm Cao đẳng. Tốt nghiệp các lớp Phật học xong là đoạn đường Tăng sinh đã hoàn tất. Hòa thượng bước sang thời kỳ hóa đạo. Hòa thượng là một vị Giảng sư trong Giảng sư đoàn của ban Hoằng Pháp, có uy tín lớn thời bấy giờ và được sự mến mộ của Phật tử xa gần.Năm 1960 -1964, Hòa thượng đã giữ những chức vụ trong Phật giáo:* Phó Vụ Trưởng Phật Học Vụ.
* Vụ Trưởng Phật Học Vụ.
* Giáo sư kiêm Quản viện Phật Học Viện Huệ Nghiêm.
* Giảng sư Viện Đại Học Vạn Hạnh và các Phật Học Đường Dược Sư, Từ Nghiêm,...
Sau lễ mãn khóa Cao Trung Chuyên Khoa tại Huệ Nghiêm và Dược Sư, Hòa thượng thầm nghĩ với ngần ấy đóng góp cũng phần nào tạm đủ nói lên tấm lòng tri ân và báo ân của mình đối với Thầy Tổ rồi. Hòa thượng liền xin phép với Tổ Thiện Hoa được lui về núi ẩn tu. Chí đã quyết, Hòa thượng dằn lòng dứt áo ra đi, âm thầm một mình một bóng lên chốn non thâm.Hòa thượng đã thật sự giã từ Phật Học Viện, giã từ phấn bảng với năm tháng miệt mài vì tứ chúng. Nhưng hai tiếng "Tăng Ni" vẫn xoáy sâu vào lòng Người, để sau này chút duyên "Thầy Trò" ấy lại gặp nhau và càng thêm son sắt trên đỉnh Tương Kỳ.Tháng 04 năm 1966, Hòa thượng dựng Pháp Lạc thất trên núi Tương Kỳ, Vũng Tàu. Ngôi thất lá vuông vức bốn thước đơn sơ với bộ Đại Tạng Kinh, nhưng đã ấp ủ một thiền Tăng nghèo quyết nhận lại cho kỳ được hạt châu vô giá của chính mình.Đến rằm tháng tư năm Mậu Thân, Hòa thượng tuyên bố nhập thất vô hạn định với lời kiên quyết: " Nếu đạo không sáng, thệ không ra thất.” Thế là cửa sài đôi cánh khép. Toàn thể môn nhân qui ngưỡng lên non một lòng mong đợi.Tháng 07 năm 1968, Hòa thượng liễu đạt lý sắc không, thấu suốt thật tướng Bát Nhã. Từ con mắt Bát Nhã trông qua tạng Kinh, lời Phật, ý Tổ hoác toang thông thống. Giáo lý Đại thừa và thâm ý nhà Thiền đã được Hòa thượng khám phá từ công phu thiền định của Người.Ngày 08 tháng 12 năm ấy, Hòa thượng tuyên bố ra thất giữa bao niềm hân hoan của Tăng Ni, Phật tử. Nước cam lồ từ đây rưới khắp, suối từ bi từ đây tuônchảy. Pháp Lạc thất thật xứng đáng là linh hồn của dòng Thiền Chân Không. Nơi đây, đánh dấu một giai đoạn chuyển mình, một bước ngoặc lớn trong cuộc đời tu của Hòa thượng. Hoài bão tu Thiền đã thai nghén bao năm trong thầm lặng đơn độc của Người, đến đây mới thật sự có điểm khởi phát và lớn dậy, để sau nầy Phật giáo Việt Nam vinh dự có một ngôi sao sáng mở ra trang Thiền sử Việt Nam rực rỡ huy hoàng vào cuối thế kỷ 20.Hòa thượng đã từng nói: “Tôi là kẻ nợ của Tăng Ni và Phật tử. Ai biết đòi thì tôi trả trước, ai chưa biết đòi thì trả sau.” Suốt đời Ngài đều dốc hết sức mình lo cho Phật pháp, đặc biệt là làm sống lại Thiền tông đời Trần, tạo điều kiện cho Tăng Ni tu hành tiến bộ. Tăng Ni tu hành có tiến bộ thì Phật pháp mới còn và lớn mạnh được. Sự tu hành tiến bộ của Tăng Ni là niềm vui của Ngài. Ngài nói: “Hoài bão của Thầy đều gởi gắm hết vào sự nỗ lực tu tập của tụi con. Tăng Ni tu có niềm vui, sáng được việc lớn, đó là biết thương tưởng đến Thầy. Bằng ngược lại thì thật là Thầy chưa đủ phước để được vui trước khi nhắm mắt. Bởi vì nguyện vọng khôi phục Thiền tông Việt Nam, đặc biệt là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần của Thầy chưa thành tựu.”Hòa Thượng hiện là Viện Chủ Thiền Viện Trúc Lâm Phượng Hoàng (Đà Lạt - Việt Nam), Hội Trưởng Hội Thiền Học Việt Nam, Chủ Tịch kiêm Hội Trưởng Hội Thiền Học Quang Chiếu và là Trụ Trì Thiền Viện Quang Chiếu.Các thiền viện sau đây chính thức được Hòa thượng thành lập, làm nơi giáo hóa và hướng dẫn tu hành:* Thiền viện Chân Không, núi Tương Kỳ - Vũng Tàu, thành lập vào tháng 04 năm 1971; dời về Thường Chiếu năm 1986, được phép tái thiết năm 1995. * Thiền viện Thường Chiếu, Long Thành - Đồng Nai, thành lập tháng 08 năm 1974. * Thiền viện Viên Chiếu, Long Thành - Đồng Nai, thành lập tháng 04 năm 1975. * Thiền viện Huệ Chiếu, Bà Rịa - Vũng Tàu, thành lập tháng 04 năm 1979. * Thiền viện Linh Chiếu, Long Thành - Đồng Nai, thành lập tháng 02 năm 1980. * Thiền viện Phổ Chiếu, Bà Rịa - Vũng Tàu, thành lập tháng 06 năm 1980. * Thiền viện Tịch Chiếu, Long Hải, thành lập tháng 07 năm 1987. * Thiền viện Liễu Đức, Long Thành - Đồng Nai. * Thiền viện Trúc Lâm, Đà Lạt - Lâm Đồng, thành lập tháng 04 năm 1993. * Chùa Lân – Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, 2002. * Thiền viện Tuệ Quang, Linh Trung, Thủ Đức, Sài Gòn. * Thiền viện Hương Hải, Long Thành - Đồng Nai. * Thiền viện Đạo Huệ, Long Thành - Đồng Nai. * Thiền viện Tuệ Thông, Long Thành - Đồng Nai. * Thiền viện Quang Chiếu, Forthworth, Texas, Mỹ, thành lập năm 2000. * Thiền viện Đại Đăng, Bonsall, California, Mỹ, thành lập năm 2001. * Thiền viện Đạo Viên, Québec, Canada, thành lập năm 2002. * Thiền viện Bồ Đề, Boston, Mỹ, thành lập năm 2002. * Thiền viện Diệu Nhân, Sacramento, Mỹ, thành lập năm 2002. * Thiền viện Tiêu Dao, Úc. * Ngoài ra, còn có Thiền Thất Ngọc Chiếu, Garden Grove, CA, Mỹ. Thiền Thất Thường Lạc - Pháp. Thiền Trang Hỷ Xả - Úc * Hòa thượng cũng đã góp sức trùng tu hai Tổ đình Phật Quang và Phước Hậu, Trà Ôn, Vĩnh Long.
Hòa thượng giảng và dịch rất nhiều bộ Kinh, Luận và Sử từ Hán văn sang Việt văn. Ngoài ra Hòa thượng còn giảng giải rất nhiều bài pháp phổ thông cho Tăng Ni và Phật tử.Hòa thượng đã đi du hoá và thăm viếng các nước:* Cam-pu-chia (1956) * Ấn Độ, Tích Lan và Nhật Bản (1965) * Trung Quốc (1993) * Pháp (1994 - 2002) * Thụy Sĩ (1994) * Indonesia (1996). * Canada (1994 - 2002) * Hoa Kỳ (1994 - 2000 - 2001 - 2002) * Úc châu (1996 - 2002).
(Nguồn: Thích Tâm Hạnh-Thiền Viện Trúc Lâm)
09/03/2017 10:41:33 - Thời báo Today
Năm 2005, một cậu thiếu niên 15 tuổi người Nepal đã ngồi thiền 8 tháng liên tục dưới một gốc cây mà không ăn uống. Câu chuyện của cậu đã thu hút giới truyền thông khắp thế giới.Trong khu rừng ở Ratapuri làng Bala (Nepal) có một cậu thiếu niên tên là Ram Bahadur Bomjan, vốn đi theo Phật giáo từ nhỏ. Vào năm 2005, cậu nói với gia đình rằng “đừng giết động vật, đừng uống rượu, bởi vì những việc này sẽ làm hại chính mình”. Sau đó, cậu rời khỏi nhà và vào trong rừng ngồi thiền, không ăn không uống.
Ban đầu, gia đình cậu phản đối và tìm mọi cách để không cho Ram ngồi thiền. Nhưng sau 3 tháng thì họ bỏ cuộc. Cậu không ăn không uống, không vệ sinh cá nhân gần 8 tháng , từ sáng đến tối chỉ nhắm mắt ngồi dưới gốc cây. Điều này đã thu hút hàng ngàn người đến hành hương, họ gọi Ram là “cậu bé Phật” (Buddha boy). Người thân của cậu đã lập một hàng rào lớn quanh gốc cây để tránh người ngoài vào làm phiền quá trình thiền định.
| Ram Bahadur Bomjon đang ngồi thiền định dưới gốc cây. |
Video tài liệu của kênh DiscoveryTin tức về “cậu bé Phật” nhanh chóng lan ra khắp thế giới. Nhóm sản xuất chương trình Discovery tỏ ra nghi ngờ đối với tin tức này nên đã đến thực địa, tiến hành ghi hình suốt 96 giờ đồng hồ ở vị trí bên ngoài cách hàng rào bảo vệ 50m để xác thực xem liệu cậu thiếu niên có thật sự như lời dân làng nói.
Khán giả sẽ quan sát xem liệu cậu thiếu niên này có rời khỏi gốc cây hoặc lấy đồ ăn thức uống từ nơi khác hay không. Bác sĩ từ khắp nơi cũng sẽ dựa theo hình ảnh này để đưa ra ý kiến của họ về tình trạng cơ thể cũng như phỏng đoán cậu thiếu niên làm thế nào mà chịu được thử thách phi thường này.
Chuyên gia y học của Mỹ cho biết, thận sẽ suy yếu rồi chết trong tình trạng không uống nước 4 ngày, kỷ lục Guinness có ghi nhận một người sống được lâu nhất 18 ngày trong trạng thái không có nước, còn sống được 8 tháng thì tuyệt đối không thể xảy ra.
Trên thực tế, sau 96 giờ, bằng kĩ thuật tiên tiến, nhóm sản xuất chương trình đã nhận ra rằng cơ thể của cậu thiếu niên không hề xuất hiện những hiện tượng suy kiệt như lời dự đoán của các chuyên gia y học. Nhóm sản xuất chương trình Discovery đã khảo sát thêm những người tụ tập xung quanh gốc cây, họ đều chứng thực rằng Ram không hề giấu bất cứ đồ ăn hay nguồn nước nào trong lúc ngồi thiền.
Từ đầu đến cuối, Ram chỉ ngồi bất động, không ăn không uống. Trong môi trường từ 5-10 độ C ở đó, thỉnh thoảng Ram còn đổ mồ hôi, có nghĩa là các chức năng sinh lý trong cơ thể hoạt động rất tốt, thậm chí còn tăng nhiệt giống như đang vận động để cơ thể không bị mất nhiệt trong môi trường nhiệt độ thấp. Nhóm sản xuất bị chấn động, người thân của Ram cho hay, trước khi bỏ đi khỏi gia đình, cậu nói rằng sẽ dự định ngồi thiền trong 6 năm.
Video ngắn trích đoạn cận cảnh Ram ngồi thiền:
Theo quan sát, vào ban ngày Ram không hề rời khỏi gốc cây, nhưng không ai được phép đến gần cậu. Khoảng từ 5 giờ chiều đến 5 giờ sáng, không có ai ở bên cậu cả, chỉ có máy quay ghi hình mà thôi. Có người phỏng đoán Ram ăn uống vào lúc đó, một số những người ủng hộ cho rằng việc tranh luận này là không có ý nghĩa gì cả. Tác giả người Mỹ – George Saunders đã quan sát cậu thiếu niên suốt đêm và rất bất ngờ trước việc cậu vẫn giữ tư thế ngồi yên tĩnh ngay ngắn dù đêm lạnh, ông cho rằng khả năng giữ đúng tư thế ngồi suốt đêm dù gió thổi hay thời tiết lạnh lẽo thật sự là siêu nhân. Ông đã ghi lại rất chi tiết cuộc hành trình của mình tại đây.
Vào tháng 1/2005, 9 nhân viên chính phủ dẫn đầu là Lạt-ma Gandamama đã quan sát suốt 48 giờ và chứng minh rằng cậu bé hoàn toàn không ăn uống bất cứ thứ gì. Một đoạn phim cũng đã chứng minh điều này, thế nhưng họ vẫn không thể đến gần trong khoảng cách 3m.
Cảnh quay về cậu thiếu niên ngồi thiền trong lửa
Một tuần sau lần khảo sát đầu tiên, nhóm ghi hình quay lại thì được biết vào 8 giờ tối ngày 5/01/2006, có 59 người làm chứng đã tận mắt nhìn thấy có ngọn lửa xuất hiện từ ngực của Ram, sau đó ngọn lửa tự thân đã thiêu rụi bộ quần áo mà Ram mặc gần 8 tháng. Sau đó, cậu đã gọi anh trai và yêu cầu mang đến một chiếc áo choàng màu đỏ.
Vào buổi tối ngày 18/01/2006, khi Ram đang ngồi thiền, một lần nữa lửa tự thân bỗng nhiên lại xuất hiện và thiêu cháy chiếc áo choàng đỏ chỉ vừa mới mặc vài ngày, cậu chìm trong ngọn lửa nhưng lại hoàn toàn không hề bị thương.
Lần này có người ghi hình lại, ngọn lửa không hề bị tắt trong suốt nửa giờ đồng hồ, tuy ngọn lửa càng lúc càng yếu, nhưng chỉ đốt một bộ quần áo mà đến những nửa giờ đồng hồ thì thật sự là khó tin. Truyền thông các nơi liên tiếp đến phỏng vấn khiến những nơi gần chỗ Ram ngồi thiền trở nên đông đúc chưa từng có.
Video Ram ngồi thiền giữa ngọn lửa trong phim tài liệu của kênh DiscoveryCác học giả Ấn Độ giải thích rằng cậu thiếu niên này đã nắm được cách tu tập cổ xưa nhất của Phật giáo Tây Tạng. Cách hít thở này có thể làm giảm quá trình trao đổi chất của cơ thể, khiến cho sự hấp thu chất dinh dưỡng của cơ thể giảm xuống thấp nhất.
Tháng 2/2006 cũng là tròn 9 tháng Ram ngồi thiền dưới gốc cây, một kênh truyền thông đã đưa nhóm bác sĩ đến để tiến hành một cuộc phỏng vấn đặc biệt. Trong lúc phỏng vấn, nhóm bác sĩ quan sát ở cự li 5m, trong nửa giờ đồng hồ cậu bé chỉ hít vào 3 lần, nuốt nước bọt một lần. Điều khiến người ta không hiểu đó là, đã lâu không ăn uống nhưng sắc mặt của cậu vẫn hồng hào, cơ thể cũng không hề có bất cứ hiện tượng lạ nào. Theo phản hồi của nhóm bác sĩ, có rất nhiều người phương Tây cũng trở nên hứng thú với tu luyện Phật gia vì sự việc về cậu thiếu niên này.
Sau 9 tháng ngồi thiền, cậu thiếu niên biến mất vào ngày 11/3/2006, những người ủng hộ cho rằng cậu đi vào rừng để tìm một nơi yên tĩnh hơn. Những năm về sau, cậu có xuất hiện trước công chúng một vài lần để thuyết giảng và làm dấu ban phước cho những người hành hương…
Cảnh Ram ngồi thiền dưới gốc cây cổ thụ có thể giống với câu chuyện nổi tiếng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, nhưng Ram chưa bao giờ tự nhận mình là Đức Phật. “Hãy bảo mọi người đừng gọi tôi là Phật. Tôi không có năng lượng của Phật. Tôi ở cấp độ của một rinpoche.” (Rinpoche trong phật giáo Tây Tạng là từ kính trọng để chỉ Lạt-ma đắc đạo, chuyển sinh hoặc một người truyền giảng Phật Pháp.)
Ngọc Trúc tổng hợp
Trong đạo Phật, tiếng chuông và tiếng trống là hai trong các loại pháp khí đã trở nên quen thuộc, gần gũi với truyền thống, văn hóa, tín ngưỡng dân tộc của người Việt Nam. Còn từ Bát Nhã tiếng Sanscrit là Prajnà, tiếng Pali là Panna, chữ Hán dịch là Trí tuệ hay Tuệ minh, đó là một loại trí tuệ sáng suốt, thanh tịnh, rỗng lặng, không còn bị chi phối bởi phiền não, ô nhiễm và là trí tuệ đệ nhất.
Tìm hiểu về chuông trống Bát Nhã
Chuông trống Bát Nhã là danh từ dùng để chỉ chuông to, trống lớn, thường chùa có thể xây lầu chuông, gác trống và treo “tả chung, hữu cổ”. Nghĩa là bên trái đặt chuông, bên phải đặt trống.
Hiểu về hai chữ Bát Nhã trong chuông trống Bát Nhã
Bát-nhã Ba-la-mật đó là mầm mống trí tuệ siêu việt, cao tột, thậm thâm vi diệu, vốn sẵn có trong mỗi chúng ta nhưng vì bị vô minh, ái dục che mờ nên chúng ta không tự biết, vì vậy tiếng chuông, tiếng trống là hai thứ tiếng có sức mạnh thúc giục giúp cho chúng ta khai sáng tiềm lực, mở thông trí tuệ, hiện hữu, không gián đoạn.
Tiếng chuông trống Bát-nhã kêu gọi chúng ta thức tỉnh, thôi thúc chúng ta thắp lên ngọn đuốc trí tuệ soi sáng con đường giải thoát.
Chuông là gì?
Nói về chuông thì đây là một loại pháp khí sử dụng riêng ở đạo Phật, được đúc bằng kim loại, phát ra âm thanh vang rền và thanh thoát, thường gọi là đại hồng chung, hình dáng của nó được làm theo các hình tháp hay hình chén rỗng.
Trong Phật giáo, chuông được coi là biểu trưng cho trí tuệ, mỗi khi âm thanh huyền diệu ngân vang thì đó chính là lời triệu gọi làm tỉnh giấc bao tâm hồn đang ngủ say trong lầm mê và thanh lọc bao cõi lòng của người con Phật.
Tiếng chuông vang dứt trừ vọng hoặc nghiệp trần gian, thông suốt khắp mười phương cõi Niết-bàn, thấu đến cõi địa ngục, u đồ chúng sanh khi nghe thấy liền bớt đau khổ và được giải thoát. Tam đường địa ngục, ngã quỷ, súc sanh cùng bát nạn địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, sinh lên cõi trời trường thọ, sinh ở uất đan việt, đuôi diếc câm ngọng, thế trí biện thông, sinh trước Phật và sau Phật đặng tiêu tan. Lại nữa, tiếng chuông thanh thoát của chùa có thể giúp cho loài quỷ đói được nhẹ bớt lòng tham lam, sân, si mà giải thoát khỏi kiếp ngạ quỷ.
Trống là gì?
Nói về trống (trống đại) thì đây là một trong những loại nhạc khí được sử dụng rộng rãi thường làm bằng đá, cây, đồng,… Tùy thuộc vào mục đích của người sử dụng mà nó có công năng khác nhau nhưng riêng ở Phật giáo tiếng trống tượng trưng cho chánh pháp và là âm thanh truyền tải giai điệu thuần khiết cho đời sống tâm linh và đây cũng chính là một trong những phương tiện để nhắc nhở người con Phật luôn sống bằng lòng chân thật, không giả dối, cảm thông, chia sẽ,… Chúng sanh mỗi khi nghe tiếng trống chánh pháp ấy thì tội chướng được tiêu trừ và cũng nhờ đó mà được giải thoát vào cảnh giới an lạc.
Ý nghĩa của chuông trống Bát Nhã
Tiếng chuông vang vọng, tiếng trống giục giã đã đánh động biết bao tâm hồn kẻ si mê và khai sáng trí tuệ.
Một khi trí tuệ và chánh pháp hòa vào nhau thì sẽ tạo âm vang vào lòng người, đánh động lương tri, khơi dậy thiện căn và cũng là ngọn nến thắp sáng lên bóng tối vô minh. Đó cũng chính là lúc con đường giác ngộ được mở thông, sanh trí huệ chăm bón cho hạt giống bồ đề trong tâm thức được tăng trưởng.
Chuông trống Bát Nhã thường được sử dụng vào dịp nào?
Chuông trống Bát Nhã thường được sử dụng vào những ngày lễ lớn trong năm, ngày sám hối, khóa tu, cung thỉnh các giảng sư, chư tôn Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức và mở đầu hoặc kết thúc một quyển kinh, riêng ở xã hội phong kiến, chuông trống bát nhã còn được đánh để cung đón vua đến viếng chùa.
Mang công dụng cung thỉnh chư Phật thượng đường chứng minh, cung nghinh chư Tôn thiền Đức quang lâm và đồng thời báo hiệu quý nam nữ Phật tử tập trung về chánh điện, giảng đường,… nhiếp tâm về với chánh niệm. Đây là một nghi thức hành lễ Phật giáo của Trung Hoa du nhập sang Việt Nam.
Cách đánh chuông trống Bát Nhã theo hai miền Nam Bắc
Chuông trống Bát nhã còn là cụm từ dùng để chỉ cách đánh chuông và trống theo bài kệ “Bát Nhã Hội” (theo miền bắc) hoặc “Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa” (theo miền nam), về cách đánh thì có sự phân biệt giữa các miền, tuy không thống nhất bằng một cách đánh nhưng nó vẫn cùng mang chung một ý nghĩa đó là cảnh tỉnh mọi người.
Tiếng chuông hay tiếng trống đó đều là loại pháp khí mang ý nghĩa sâu sắc trong sự tồn tại và phát triển của Phật giáo và mang ý nghĩa tâm linh trong tâm hồn những ai là người con Phật. Hồi chuông, hồi trống vang lên còn ngầm có ý nghĩa là cảnh tỉnh mọi người nên thức tỉnh tu hành tìm về nẻo giác.
Vì thế chuông trống bát nhã rất quan trọng trong thiền môn mỗi khi ngân vang đó còn là lời nhắc nhở cho chúng ta trang bị hành trang trí huệ trên lộ trình giải thoát.Minh Hùng - Vườn hoa Phật giáo
Chúng ta phải nương hào quang ấy, khai phát ra, để trí huệ ngày càng sáng suốt, tham sân si ngày càng thưa mỏng, nghiệp chướng ngày càng tiêu trừ, những vọng tưởng điên đảo ngày càng giảm thiểu. Lúc ấy, Bồ tát Địa Tạng sẽ xuất hiện, cửa địa ngục tham sân si sẽ bị phá đổ. Mong rằng tất cả những người hữu duyên đều được lợi ích, và hãy y cứ vào đó tu hành, từ đây cho đến ngày viên mãn.Tựa đề của kinh Địa Tạng cần giải thích trước tiên là “U minh Giáo chủ Bổn Tôn Địa Tạng Bồ tát Ma ha tát”. Có nghĩa đấng giáo chủ cõi U minh là Bổn Tôn Địa Tạng Bồ tát Ma ha tát. Thông thường, chúng ta tin có một vị Bồ tát tên Địa Tạng, Ngài cầm trong tay phải một cây tích trượng và tay trái một hạt minh châu. Ngài xuống địa ngục làm giáo chủ, dùng tích trượng đập phá cửa địa ngục để cứu vớt chúng sanh, nếu chúng sanh chí thành niệm danh hiệu của Ngài. Nhưng liệu chúng ta tin một cách thật thà như vậy có đúng không? Đó là điều đáng nói.
Chúng ta nên biết, cách sử dụng từ ngữ trong kinh điển thật hết sức sát nghĩa và rõ ràng: “Bổn” là Bổn tâm. “Tôn” là tôn quý, “Địa” là tâm địa, “Tạng” là Như Lai tạng. Như vậy, chỉ có Bổn tâm mới là tôn quý nhất, đó là kho Như Lai tạng tâm địa; chỉ có Bổn tâm mới làm chủ được cõi u minh, tức làm chủ cõi địa ngục tham sân si của chính mình.
Địa ngục chính là địa ngục tham sân si, vì chúng sanh khổ là do tham sân si mà khổ. Và khi có tham sân si đầy dẫy trong tâm, phiền não dấy khởi, thì cái gì mới phá được cửa địa ngục này? Dĩ nhiên phải là Bổn Tôn Địa Tạng của chính mình vậy. Quan trọng là mình phải nhận ra được Bổn Tôn Địa Tạng – nghĩa là tự tánh Như Lai tạng tâm địa, cái cực tôn cực quý, hoặc nói gọn như trong kinh Niết Bàn, nhận lại Phật tánh của mình, thì mình mới có thể đập phá được địa ngục tham sân si và cứu giúp chúng sanh muôn loài.Nếu đọc các kinh điển Đại thừa, chúng ta sẽ thấy trong kinh dùng rất nhiều ngụ ngôn ngụ ý, ám chỉ nghĩa lý sâu xa huyền diệu. Cho nên, khi chúng ta quá chấp nê vào chữ nghĩa, hiểu những hình ảnh lung linh được diễn tả trong đó một cách quá thật thà, thì chúng ta sẽ khó lãnh hội được ý kinh. Mà không lãnh hội được ý kinh thì không thể nào hiểu được bản ý của Đức Phật.
Kinh Địa Tạng không phải là thật giáo – nghĩa là chỉ thẳng, mà thuộc quyền giáo – nghĩa là quyền biến phương tiện, tức phải tạm dùng cái sự tướng lung linh huyền diệu đó để hiển bày lý tánh tuyệt đối kia. Khi muốn trỏ một cái thật, nếu dùng lý lẽ diễn đạt một cách chi li, thì dễ làm phát sinh những khái niệm từ thức tâm phân biệt, sẽ khó đi thẳng vào chân lý cứu cánh. Chẳng hạn như kinh Pháp Hoa, các dụ về Cùng tử, về tháp Đa Bảo, về Như Lai thọ lượng...
Muốn nói lên điều gì? Rõ ràng, các hình ảnh ấy đều nhằm kích thích trực giác hết. Kinh Địa Tạng ở đây cũng vậy, Bồ tát Địa Tạng và cõi U minh được diễn tả cũng chỉ là dùng sự để hiển lý.Đức Phật thường được các hàng đệ tử xưng tán là “Như Lai biết nghĩa, biết pháp, biết trình độ, biết thời cơ và biết chúng hội”. Sự thuyết pháp của Phật căn cứ vào ba yếu tố: thời, xứ và vị – nghĩa là thời gian nói pháp, nơi chốn nói pháp và đối tượng nghe pháp. Vì vậy, Phật không nói pháp nào chỉ có ý nghĩa một chiều.
Có khi Ngài nói pháp thấp cho hàng căn cơ kém; có lúc Ngài nói pháp vừa cho hàng trung căn; cũng có khi lại nói pháp cao, rốt ráo cho hàng căn cơ bậc thượng. Cho nên, nhiều khi trong kinh điển chúng ta thấy có vẻ mâu thuẫn nhau, nhưng kỳ thực, đó là do tùy duyên hóa độ. “Nhất thiết tu đa la giáo như tiêu nguyệt chỉ”, tất cả kinh điển như ngón tay chỉ mặt trăng, chúng ta phải nương ngón tay để thấy mặt trăng, nghĩa là phải nương vào văn tự trong kinh để khéo thầm hội được chân lý.Đối với kinh Địa Tạng, nếu chúng ta hiểu một cách thật thà và mê tín rằng, Địa Tạng là một vị Bồ tát có hình tướng rõ ràng, và có một cõi địa ngục thật sự, thì chúng ta đã chấp ngón tay là mặt trăng, chúng ta sẽ ỷ lại vào tha lực, tin tưởng vào thần quyền, rồi vô tình bài bác lý nhân quả. Nếu thật sự có một Bồ tát Địa Tạng đủ khả năng đập phá cửa địa ngục, thì chúng ta khỏi cần tụng kinh, tọa thiền hay tu Bát quan trai, chỉ cần một lòng cầu Bồ tát, chờ đến lúc chết sẽ có Ngài đến cứu.
Như vậy thì, tinh thần ai ăn nấy no – ai uống nấy hết khát có còn đâu? Nhân nào quả nấy cũng không có ý nghĩa. Đức Phật ra đời cũng vô nghĩa luôn. Nhưng thật ra, vì sao chúng ta phải nỗ lực tu hành? Nếu chúng ta không cải ác phục thiện, không dứt trừ các nghiệp ác nơi thân, khẩu, ý, thì có vị Bồ tát nào cứu vớt mình được? Ví dụ trong một lớp học, ông thầy đem hết khả năng để dạy một cách công bằng, nhưng có thể nào thầy làm toàn bộ học trò đều giỏi đồng đều như nhau không?
Chủ ý của thầy là dạy hoàn toàn bình đẳng, nhưng kết quả học tập lại tùy thuộc trí thông minh, sự siêng năng cần mẫn, hoàn cảnh gia đình của mỗi học trò. Cũng như thế, chư Phật và chư Bồ tát không phải hoàn toàn không có tha lực đối với chúng sanh, nhưng tha lực của các Ngài chỉ là sức trợ duyên mà thôi.Đức Phật ra đời, khai thị cho chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến, nhưng khai thị mà chúng sanh có ngộ nhập được hay không là do ở mỗi chúng sanh. Nếu Phật có thể ban cho chúng sanh cái tri kiến Phật ấy, thì chúng sanh đâu cần tu, và tinh thần “Tự thắp đuốc lên mà đi” hóa ra vô nghĩa. Cho nên, nếu có suy nghĩ một chút, ta sẽ thấy, mọi kinh điển đều nhằm kích thích trực giác để ta nhận ra cái Bổn Tôn Địa Tạng, rồi tự nỗ lực để cứu chính mình ra khỏi sinh tử luân hồi.Trước khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập diệt ở rừng Ta La Song Thọ, Ngài đã tuyên bố rất rõ : “Các ông hãy tự thắp đuốc lên mà đi, thắp lên với chánh pháp”. Nếu chúng ta không tự thắp đuốc lên mà đi, cứ trông cầu nơi Phật, Bồ tát, thì chúng ta đã rơi vào thần quyền mất rồi, Đức Phật đã trở thành một vị thần linh rồi! Và nếu chúng ta thần thánh hóa các Ngài, các Ngài sẽ bị giảm giá trị; giáo lý của Đức Phật cũng bị đánh mất tính thực tiễn, tính khoa học và tính nhân bản, là nền tảng giá trị và đạo đức muôn đời của Đạo Phật.
Cho nên, sự học Phật của chúng ta, mỗi mỗi phải y cứ vào tinh thần “tự mình thắp đuốc”, vốn là kim chỉ nam cho mỗi người con Phật, dù là xuất gia hay tại gia. Chúng ta cần biết rằng, khi luận đến nghĩa lý sâu xa của kinh điển Đại thừa, thì khi nói đến chúng sanh, phải hiểu là chúng sanh tâm, bởi vì ngoài tâm không có chúng sanh. Kinh Hoa Nghiêm có nói, tâm như người thợ vẽ, vẽ ra mỗi ngũ uẩn của chúng ta.Mỗi thân ngũ uẩn được tác tạo do vọng tâm, nói cách khác là do nghiệp lực. Như vậy, nói đến chúng sanh chánh báo, đó là chúng sanh tâm, còn hoàn cảnh y báo cũng không ngoài tâm mà có. Ở đây cũng vậy, chúng ta phải luôn luôn quay trở về bản tâm của chính mình thì mới hiểu được ý kinh. Chúng sanh bị đọa địa ngục, đó là chúng sanh tâm bị đọa lạc vào địa ngục tham sân si phiền não.
Muốn giải phóng chúng sanh tâm, phải dùng tự tánh Địa Tạng của chính mình. Nếu chúng sanh là chúng sanh tâm, thì Phật cũng là Phật tâm, ngoài tâm không có Phật; nếu địa ngục là địa ngục tự tâm, thì Địa Tạng tất nhiên cũng là Địa Tạng tự tâm vậy. Cho nên, có thể nói, không thể nào lìa tâm để tu hành, không thể nào lìa tâm mà giải thoát.
Đây là điều chúng ta phải hết sức lưu ý. Chúng ta tu là tu tâm của chúng ta, nếu thanh tịnh cũng là thanh tịnh cái tâm; khi giác ngộ là giác ngộ tự tâm, cho đến lúc thành đạo cũng là thành tựu lại cái bản tâm ấy. Ngoài tâm sẽ không có cái gì cả. Đó là chỗ y cứ của tất cả kinh điển Đại thừa.Thông thường, nếu hiểu theo sự tướng, thì quy y Phật là trở về nương tựa nơi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, quy y Pháp tức quy y giáo pháp của Ngài, và quy y Tăng nghĩa là quy y những Tăng sĩ tu hành thanh tịnh. Nhưng nếu hiểu theo tinh thần của Lục Tổ Huệ Năng, hoặc của các kinh điển Đại thừa, thì quy y Tam bảo tức là Tam bảo tự tâm: Phật là tánh giác của chính mình, Pháp là chánh kiến sẵn đủ nơi tự tâm, Tăng chính là bản tâm thanh tịnh (Phật là Giác, Pháp là Chánh, Tăng là Tịnh).
Hiểu như thế mới trọn vẹn cả sự và lý, chứ nếu chỗ quy hướng lại ở bên ngoài, đó chính là ngoài tâm cầu Phật - tức là ngoại đạo. Bởi Phật là Phật tâm, mà trở về với tự tánh Địa Tạng là một sự quy y lớn. Chính vì sự quy y này mà cả ba đời Như Lai đồng kính ngưỡng, và mười phương Bồ tát mới trọn trở về nương tựa. Chúng ta sẽ khảo sát điều này kỹ hơn khi đọc đến đó.Trở lại từ đầu: Chúng ta nên biết, bài tựa xưng tán Bổn Tôn Địa Tạng chính là cương lĩnh, là kim chỉ nam, là tổng quan của toàn bộ bản kinh. Cho nên, nếu hiểu rõ được bài tựa này, ta sẽ hiểu được toàn bộ bản kinh không khó :“Dốc lòng cung kính lễ Giáo chủ cõi U minh
Là Bổn Tôn Địa Tạng Bồ tát Ma ha tát”Cung kính lễ mà dốc lòng, có nghĩa là toàn tâm toàn trí cung kính lễ. Giáo chủ cõi U minh tức là bản tâm thanh tịnh của chính mình. Như vậy, đây là một sự quy y trở về với Bổn Tôn Địa Tạng của mình.“Cúi đầu kính lễ Đấng Giáo chủ đại từ bi
Giống như đất bền chắc, sâu dày, rộng chứa khắp”.Đất ở đây có nghĩa là đất tâm. Đất tâm rất kiên cố, không có gì công phá được, hủy diệt được. Tâm địa kiên cố là đức tính thứ nhất của Bổn Tôn Địa Tạng. Đức tính thứ hai là sâu dày. Chúng ta thấy, biển sâu cách mấy cũng có thể dò được, nhưng làm sao dò được tâm? Tâm không có hình tướng, kích thước, rút lại thì trên đầu mũi kim, bủa ra thì trùm khắp pháp giới; cho nên gọi là sâu dày. Đức tính thứ ba là rộng chứa khắp. Phật dạy: Bổn tâm của mỗi chúng sanh thật bao la không ngằn mé, nếu đem hư không so với bổn tâm, cũng như hòn bọt ví cùng biển cả.Chúng ta dám nhận mình có Bổn Tôn Địa Tạng không? Nếu chúng ta không dám nhận, thì như kinh Pháp Hoa nói, chúng ta là những cùng tử xin ăn đầu đường góc chợ, con của trưởng giả mà cứ chịu lang thang. Lẽ ra, biết rõ cha mình rất giàu có, vàng bạc kho lẫm dẫy đầy, chúng ta phải trở về thọ hưởng gia tài của cha. Cũng như thế, chúng ta có Bổn Tôn Địa Tạng kiên cố, sâu dày, rộng chứa khắp này, mà lại cô phụ tánh linh của chính mình, rồi trôi giạt trong sáu đường ba cõi. Đó là cái bi kịch của kiếp người.Tiếp theo, khi tán dương đúng mức công đức của Bổn Tôn Địa Tạng rồi, thì bắt đầu những hình ảnh lung linh huyền diệu:“Thế giới phương Nam bủa mây hương,
Mưa hương, mây hoa và mưa hoa,
Mưa báu, mây báu nhiều vô số,
Ứng hiện điềm lành khắp trang nghiêm”.Phương Nam là cõi Nam Thiệm Bộ Châu, tức cõi Diêm Phù Đề này. Thế giới lúc này không những có mây hương mà còn có mưa hương, mây hoa, mưa hoa, và cả mưa báu, mây báu nhiều vô số nữa. Chúng ta có tin rằng, trong cõi Ta-bà này mà có mây hương mây hoa không?
Nếu chúng ta tin trong đãy da hôi thối này có hòn ngọc như ý, trong lò lửa vô thường này có hoa sen nở, thì sẽ tin có những điềm lành ấy ứng hiện. Nói theo tinh thần kinh Hoa Nghiêm, khi nhận được bổn tâm, liền tức khắc tất cả các pháp đều trở thành những phẩm vật trang nghiêm. Có nghĩa là, khi một người nhận ra bổn tâm của chính mình, tức khắc tất cả pháp đều trở thành thị giả cho vị ấy. Bởi vì “Tất cả pháp đều từ tâm sanh”. Mê thì tất cả toàn mê, mà khi giác thì “Nhất thiết pháp giai thị Phật pháp”, tất cả pháp đều là pháp Phật, cõi Ta-bà liền tức khắc trở thành Tịnh độ.“Trời Người hỏi Phật: là nhân gì?
Phật bảo: Địa Tạng Bồ tát đến”.Khi thấy ứng hiện những điềm lành, trời người trong chúng hội đã hỏi Phật, đó là do nhân duyên gì? Phật trả lời, Bồ tát Địa Tạng đến. Nếu hiểu theo sự, chúng ta tưởng có một vị Bồ tát Địa Tạng, tay cầm tích trượng và ngọc minh châu đi đến. Nhưng nếu theo lý, phải hiểu rằng, Bổn Tôn Địa Tạng xuất hiện nguyên hình, cái nguyên hình mà từ vô thủy đến vô chung chúng ta đều có mà lại quên đi.
Đó là cái tâm thanh tịnh, cái tâm giác ngộ ứng hiện ra bên ngoài thành cái thấy, nghe, hay, biết của chúng ta. Nếu nhìn các pháp mà chúng ta không có một chút vọng tưởng điên đảo nào hết, thì Bồ tát Địa Tạng hiện tiền, các pháp đều trở thành vi diệu. Nếu nói theo tinh thần kinh Pháp Hoa, là khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến; còn theo kinh Địa Tạng, đó là khai thị cho chúng sanh nhận ra cái Bổn Tôn Địa Tạng của chính mình. Đây là mục đích duy nhất của chư Phật khi ra đời. Nếu hiểu được nghĩa lý thâm sâu của sự kiện Bồ tát Địa Tạng xuất hiện, chúng ta sẽ sáng tỏ được hai câu kế tiếp:“Ba đời Như Lai đều kính ngưỡng,
Mười phương Bồ tát trọn quy y”.Hiểu theo sự, chúng ta sẽ thấy vô lý. Phật làm sao kính ngưỡng Bồ tát là vị có trình độ giác ngộ, trình độ tâm linh kém hơn? Cho nên, chúng ta phải hiểu theo nghĩa lý thâm sâu của nó. Kinh Bát nhã đã nói: Bát Nhã là mẹ chư Phật mười phương ba đời. Bát nhã là chánh nhơn tu hành của Bồ tát, là nguồn cội của tất cả mọi sinh linh hữu tình.
Nếu hiểu Bát nhã như vậy, mới hiểu được vì sao Địa Tạng lại được ba đời Như Lai kính ngưỡng. Bồ tát Địa Tạng ở đây là bản tâm của chính mình, mà bản tâm thì ở chư Phật, Bồ tát đều bình đẳng như nhau. Phật – Phật đồng đẳng ở bản tâm. Phật ngộ là ngộ tâm, chứng là chứng tâm. Đã ngộ tâm chứng tâm, thì chư Phật kính ngưỡng bản tâm là điều hợp lý.“Nay con đầy đủ nhân duyên lành
Tán dương công đức chân thật của Địa Tạng”.Tán dương mà hiểu được Địa Tạng là bản tâm thanh tịnh của chính mình, thì mới là tán dương chân thật, mới gọi là đầy đủ nhân duyên lành.“Ngài là hiện thân của từ bi, của mọi điều lành.
Ngài thệ cứu độ tất cả chúng sanh”.Từ bi có ở ngoài tâm không? – Từ bi là ở nơi tâm, là dụng của tâm, nên nói Ngài là hiện thân của từ bi. Làm tất cả mọi điều lành, tạo bao nhiêu công đức cũng không ngoài tâm để tạo, nên nói Ngài là hiện thân của mọi điều lành. Và theo lời nguyện của Ngài: “Địa ngục vị không thệ bất thành Phật, chúng sanh độ tận phương chứng Bồ đề”. Khi độ sạch hết chúng sanh tâm vào vô dư Niết bàn, theo tinh thần kinh Kim Cang, thì mới triệt chứng Bồ đề. Nếu còn một chúng sanh tâm, nghĩa là địa ngục chưa hoàn toàn trống, thì chưa thành Phật được.Bây giờ nói đến biểu tướng của Ngài Địa Tạng:“Tích trượng cầm trong tay, mở toang cửa địa ngục.
Trên tay có hạt minh châu, lóng lánh ánh sáng soi khắp đại thiên thế giới”.Đây là một hình ảnh lung linh huyền diệu nữa. Chúng ta thấy, tích trượng của Ngài có bốn cái vòng, đó là tượng trưng cho Tứ đế, có mười hai khuy, tượng trưng Mười hai nhân duyên. Ngài cầm tích trượng trong tay có nghĩa quán triệt được Tứ đế và Thập nhị nhân duyên. Tích trượng cũng tượng trưng ý chí kiên cường, khi có đủ ý chí đại hùng đại lực, mới mở toang được cánh cửa địa ngục tham sân si của tự tâm.
Hạt minh châu lóng lánh tức hòn ngọc như ý, tượng trưng bản tâm thanh tịnh, có ánh sáng soi khắp đại thiên thế giới, nghĩa là tính thường chiếu của tâm, soi sáng cùng khắp. Do đó khi tỏ được lý Tứ đế và Thập nhị nhân duyên, rồi nhận ra bản tâm thanh tịnh, thì đủ sức phá tan địa ngục tham sân si trong tự tâm, đạt đến cứu cánh giải thoát.“Ngài chính là Diêm Vương trên điện”.Diêm Vương là vị vua xử tội chúng sanh ở âm phủ, tại sao Bồ tát Địa Tạng lại là Diêm Vương? Nếu ai làm việc phạm pháp hay tạo tội ác, dù đôi khi giấu được mọi người, trốn tránh được pháp luật, nhưng không thể giấu được tòa án lương tâm của mình. Như vậy, chính lương tâm, lương tri, tức Bồ tát Địa Tạng, là Diêm Vương xử tội cho chính mình. Mình vừa khởi một niệm ác, niệm ấy liền in vào A-lại-da thức, thành nghiệp ác.“Ngài chính là gương nghiệp trước đài”Nghiệp giống như gương soi, Hồ đến hiện Hồ, Hán đến hiện Hán. Khi bản tâm thanh tịnh, các pháp hiển bày thể tánh; khi còn vô minh, nghiệp in vào A-lại-da thức như vật hiện trong gương, lưu ảnh trước đài. Như vậy, tạo tội là do mình, tạo phước cũng do mình, chúng ta từ đây trở đi có dám tạo tội nữa không? Bởi chính mình vừa là gương nghiệp, vừa là Diêm Vương, thì trốn đâu cho khỏi? Sự tu hành rất là sòng phẳng, có phải vậy không?“Vì chúng sinh cõi Nam Diêm Phù Đề
Bậc giáo chủ chứng minh mọi công đức”Tự tâm của mình sẽ chứng minh mọi công đức cho mình. Chúng ta thấy, chính tâm là nguồn cội của mọi công đức, mà cũng là gốc rễ của tội lỗi; chính tâm là căn bản của giải thoát sinh tử, mà cũng là gốc của luân hồi.“Nay thành tâm kính lễ
Đại bi, Đại nguyện, Đại thánh, Đại từ
Bổn Tôn Địa Tạng Bồ tát Ma ha tát”.Xin được nhắc lại, Bồ tát Địa Tạng nếu nói về lý, là một nhân vật tượng trưng, ngầm chỉ cái cực tôn quý sẵn có nơi mỗi chúng ta. Cho nên, khi đến chùa đảnh lễ Bồ tát Địa Tạng, nên nhớ đến Địa Tạng tự tâm của chính mình. Chỉ có Địa Tạng này mới đủ năng lực phá đổ tường thành vô minh và cứu vớt mình khỏi địa ngục tham sân si tối tăm. Cái gọi là thiên đường không có ở ngoài tâm, địa ngục cũng không ngoài tâm mà có.
Tâm như người thợ vẽ, tạo hoàn cảnh chánh báo và y báo của mỗi chúng sanh, tạo nên tất cả sự vật trên thế gian, tạo cả sáu đường ba cõi. Cho nên, người ngộ được tâm và sống viên mãn với tâm, người đó được gọi là Phật. Phật là giác, nghĩa là giác cái tâm sẵn đủ ở mình, chúng sanh si mê nên thọ khổ, cũng là thọ khổ nơi tự tâm; Bồ tát Địa Tạng cứu độ chúng sanh cũng phải là chúng sanh tâm.Đức Phật thuyết kinh lúc nào cũng có sự và lý, sự dùng những hình ảnh để làm phương tiện, lý nhằm hiển bày cái chân lý cứu cánh kia. Có nhiều người đọc kinh điển Đại thừa, lại chấp vào sự mà không hiểu lý, nên dễ rơi vào “mê tín Đại thừa”. Vì vậy, chúng ta phải khéo tư duy, khéo thâm nhập, mới thấy cái thú vị của kinh. Nếu không, sẽ thấy kinh có vẻ lạc lõng, không phù hợp với thời đại khoa học hiện giờ.
Thực ra, cảnh giới của một người đã giác ngộ rất khác với người thường: Tất cả sự vật tầm thường đều đứng lên diễn bày Phật pháp, như kinh Di Đà đã nói, tiếng suối reo, tiếng chim hót đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Tất cả pháp luôn luôn mời gọi, nhưng vì chúng ta không lắng tâm lại để nghe, mãi chạy theo những vọng tưởng lăng xăng điên đảo, nên không biết rằng tất cả tiếng đều là tiếng Phật. Trên mặt đất hiện thực của cuộc đời này, nếu tâm ta thanh tịnh, ta sẽ thấy nơi nào cũng có bảy báu, nước nào cũng là nước tám công đức, ở đâu cũng là cõi Cực lạc.Tất cả pháp đều hướng từ nơi tâm, tất cả cảnh giới đều do tâm lượng mà biến hiện. Ví dụ, chỉ là một dòng sông, nhưng đối với loài người thì đó là nước để sử dụng; đối với loài cá, là thế giới cho chúng bơi lội sinh sống, là không khí cho chúng thở; đối với loài ngạ quỷ, lại thấy đó toàn là máu; còn đối với chư Thiên, thì do phước nghiệp nên các vị thấy là lưu ly pha lê trong suốt. Như vậy, dòng sông đã lên tiếng tùy tâm lượng của mỗi chúng sanh. Cho nên, cõi Tịnh độ hay thế giới Ta-bà cũng ở tại đây, thiên đường hay địa ngục cũng tại đây hết.Trong sự học Phật, nếu hiểu được kinh điển theo tinh thần lý sự viên dung như thế, ta sẽ cảm thấy rất tự tin, không sống theo sự mong cầu và ỷ lại vào tha lực. Tự nhiên sẽ hợp với lý nhân quả, với lời Phật dạy “Tự thắp đuốc lên mà đi”. Không ai có thể ăn uống giùm, sống giùm cho ai. Nếu tự do tạo nghiệp ác rồi cầu nguyện Bồ tát Địa Tạng, tin rằng Bồ tát có thể cứu mình, thì ý nghĩ đó hết sức sai lầm và tai hại, đó hoàn toàn không có chánh kiến và chánh tín.Ở đây, chúng ta cũng cần nhận định cho rõ, địa ngục không phải hoàn toàn không có. Địa ngục là địa ngục tự tâm, nhưng đó cũng là cảnh giới do nghiệp cảm đồng phận của chúng sanh. Nghiệp ác giống nhau sẽ chiêu cảm một cảnh giới như nhau. Ví dụ, Phật và Bồ tát thấy cõi người là cảnh huyễn mộng, không thật; nhưng chúng ta vẫn thấy đây là thật, do nghiệp người của tất cả chúng ta, chưa giải thoát được sinh tử. Tương tự, cảnh giới địa ngục không có thật đối với các bậc giác ngộ, nhưng vẫn là thật đối với những chúng sanh tạo tội.
thế gian cũng thế, những người cùng một nghiệp thường có khuynh hướng cùng tụ tập với nhau ở một môi trường, một cảnh quan tương ứng: kẻ trộm cướp vào tù, những người ham tu cùng nhau đến chùa tụng kinh, nghe pháp.Tóm lại, địa ngục nghĩa là tham sân si phiền não của chúng sanh. Địa ngục cũng chính là cảnh giới của ba nghiệp ác, từ thân khẩu ý phát sinh ra. Địa ngục là sự tối tăm ám chướng, là sự mê muội trong tâm thức của mỗi người. Đó chính là địa ngục tự tâm.
Phật nói kinh Địa Tạng là cốt cảnh tỉnh tất cả chúng ta dẹp bỏ tham sân si nơi tự tâm, tu tập ba nghiệp lành nơi tự tâm, rồi dứt nghiệp cũng nơi tự tâm và giải trừ vô minh tăm tối cũng nơi tự tâm. Cuối cùng trở về với Bổn Tôn Địa Tạng của chính mình. Đó là cương lĩnh của toàn bộ kinh Địa Tạng.Về phần chính văn trong bản kinh, đề nghị chúng ta đọc kỹ và hiểu theo nghĩa lý sâu mầu của kinh. Rồi sẽ thấy kinh nói chuyện với mình nhiều điều hết sức mới mẻ, mầu nhiệm. Khi hiểu rõ ý kinh, sự trì tụng mới đầy đủ ý nghĩa, đời tu của chúng ta mới đúng theo quỹ đạo tu hành; nếu không, chúng ta có thể rơi vào đường tà, vào mê tín, thì uổng một đời làm đệ tử của Đức Phật. Chúng ta là đệ tử Phật, tắm mình trong ánh hào quang của Phật, hào quang ấy là trí tuệ Phật tâm sẵn đủ của chính mình.
Chúng ta phải nương hào quang ấy, khai phát ra, để trí huệ ngày càng sáng suốt, tham sân si ngày càng thưa mỏng, nghiệp chướng ngày càng tiêu trừ, những vọng tưởng điên đảo ngày càng giảm thiểu. Lúc ấy, Bồ tát Địa Tạng sẽ xuất hiện, cửa địa ngục tham sân si sẽ bị phá đổ. Mong rằng tất cả những người hữu duyên đều được lợi ích, và hãy y cứ vào đó tu hành, từ đây cho đến ngày viên mãn.Bài viết Yếu nghĩa kinh Địa Tạng
Tác giả: Thích Thông Huệ - Vườn hoa Phật giáo
Thần Chú Đại Bi là thần chú quảng đại viên mãn, thần chú vô ngại đại bi, thần chú cứu khổ. Trí chú này thì diệt vô lượng tội, được vô lượng phước và chết thì sinh Cực Lạc.Cửa Phật có đến tám vạn bốn ngàn pháp môn, một người học Phật dù cố gắng hành trì, tu tập trãi qua hằng hà sa số kiếp cũng không dễ gì có thể lãnh hội hết tất cả nội dung phong phú đó huống là chỉ một đời người. Cho nên, tùy theo căn cơ, duyên nghiệp, một khi đã phát tâm đi vào con đường giải thoát, hành giả hoặc nhờ phước duyên được chư Phật, chư Bồ Tát độ trì dẫn dắt, hoặc do minh sư chỉ bảo, mỗi người cần nên tự chọn cho mình một pháp môn để tu tập. Có rất nhiều pháp môn tu học phổ biến trong đại chúng hiện nay như Tịnh Độ, Mật Tông, Thiền Định… Pháp môn tuy có thể khác nhau, nhưng một khi đã tự xem mình là trưởng tử của Như Lai, hạnh nguyện của mỗi hành giả đều giống nhau, đó là noi theo ánh sáng của chư Phật, quyết tâm xé bỏ bức màn vô minh, đạp qua nẽo luân hồi sinh tử để đi vào con đường giải thoát, tiến đến đạo qủa bồ đề, hầu mang lại an vui, phúc lợi không những cho riêng mình mà còn cho toàn thể chúng sanh.“Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”, đó là tâm nguyện chung của một người mang hạnh nguyện Bồ tát vào đời, dù khoác trên mình chiếc áo tăng sĩ hay hàng tại gia cư sĩ. Nhưng một người dù có thiện tâm, hảo ý đến bao nhiêu mà không có khả năng thực hiện được ý nguyện của mình thì thiện tâm hảo ý cũng trở thành vô ích. Như một người trông thấy kẻ bị nạn sắp chết đuối dưới dòng nước chảy xiết, nhảy xuống định cứu, thế nhưng bản thân mình lại không biết lội, chẳng những đã không cứu được người, vừa thiệt thân mạng mình một cách vô ích, lại còn gây trở ngại thêm cho công tác cứu hộ. Cho nên, muốn độ người trước hết phải độ ta, có nghĩa là phải xét xem ta có đủ khả năng, tư cách để độ người hay không? Muốn thế mỗi người phải luôn tích cực, tinh tấn tu tập không ngừng nghỉ mới có thể từng bước tiến dần đến ánh sáng giác ngộ.Có thể nói một cách khẳng định rằng, để đạt được cứu cánh giác ngộ không có con đường tu tập nào khác hơn ngoài con đường Thiền định. Chư Phật, chư Bồ Tát, chư Tổ cũng đều đã phải trãi qua con đường đó. Chính Đức Thế Tôn đã từng nhấn mạnh đến lợi ích quan trọng của thiền định: “Thiền định là phương tiện duy nhất để thanh tịnh nội tâm, tiêu trừ phiền não.” (Samyutta, 16:13 – Tạp A Hàm), và chính Ngài cũng đã trải qua 49 ngày đêm thiền định rốt ráo trước khi chứng đạt được đạo quả bồ đề. Chúng ta, những người học Phật, dĩ nhiên cũng không có một lựa chọn nào khác hơn. Tuy nhiên, một vấn nạn lớn đặt ra cho những người mới tập tểnh bước chân vào cửa Thiền, là làm sao tìm ra cho mình một phương pháp thích ứng để con đường tu chứng của mình mau đạt được kết quả mà không bị lạc lối trong rừng Thiền mênh mông, chẳng những đã không đạt được cứu cánh giác ngộ mà đôi khi lại còn có thể bị rơi vào con đường ma đạo.Muốn học đạo phải tìm thầy. Có rất nhiều minh sư ở khắp mọi nơi để Phật tử có thể tìm đến tham cầu, nhưng nếu vì một lý do nào đó mà hành giả không có cơ duyên hay phương tiện để gặp gỡ họ, hôm nay chúng tôi sẽ xin giúp hướng dẫn qúy vị đến gặp một vị Đại minh sư, một “Người” rất quen, luôn luôn gần gũi bên cạnh chúng ta, luôn luôn lắng nghe những lời khẩn cầu của chúng ta với tất cả sự quan tâm và tấm lòng thương yêu rộng lớn để sẵn sàng giúp đỡ mà không cần đòi hỏi một điều kiện thù đáp nào. Vị minh sư đó không ai khác hơn là Đức Bồ Tát Quán Thế Âm và với phương tiện thiện xão của Ngài, thần chú “Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni”, sẽ giúp đỡ cho bất cứ ai khi trì tụng Thần chú này đúng phương pháp chắc chắn sẽ mau chóng bước chân vào cõi Thiền, cũng như đạt được mọi điều sở nguyện.Như người cùng tử, suốt một đời rong ruổi ngược xuôi, đến khi mang chiếc thân tàn trở về lại ngôi nhà cũ của Cha mình mới khám phá ra viên ngọc vô giá trong chiếc áo rách nát tả tơi theo năm tháng mà ngày xưa người cha vì lòng yêu thương đã khâu vào trước khi đứa con bỏ nhà đi hoang. Thần chú Đại Bi, chính là viên ngọc vô giá đó và hôm nay, như người cùng tử năm xưa, chúng ta bất ngờ khám phá lại kho tàng không những sẽ làm giàu có, phong phú cho tâm hồn đang khô kiệt của chúng ta, mà còn là chiếc chìa khóa mở cho ta vào cánh cửa thênh thang của đạo quả giác ngộ, vô thượng bồ đề.1. Lý Do Ra Đời Của Thần Chú và Phát Nguyện Của Bồ Tát Quán Thế Âm:Thần Chú Đại Bi được rút ra từ Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni, do chính Đức Phật Thích Ca diễn nói trong một pháp hội trước mặt đông đủ các vị Bồ Tát, Thinh văn, Thánh chúng, Trời, Thần, Thiên, Long, các Đại thánh tăng như Ma-Ha Ca-Diếp, A-Nan… cùng câu hội, tại núi Bồ Đà Lạc Ca (Potalaka), một hải đảo ở về phía Nam xứ Ấn Độ, được coi như là nơi mà Đức Bồ Tát Quán Thế Âm thường trụ tích. Ta có thể tin chắc điều đó bởi vì Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn được mở đầu bằng câu nói quen thuộc của Ngài A Nan “Như thế tôi nghe” cũng như xuyên qua nội dung hỏi đáp giữa ngài A Nan và Đức Thế Tôn đã được ghi lại ở trong kinh.
Trong pháp hội này, Bồ Tát Quán Thế Âm vì tâm đại bi đối với chúng sanh, muốn cho “chúng sanh được an vui, được trừ tất cả các bệnh, được sống lâu, được giàu có, được diệt tất cả nghiệp ác tội nặng, được xa lìa chướng nạn, được tăng trưởng công đức của pháp lành, được thành tựu tất cả các thiện căn, được tiêu tan tất cả sự sợ hãi, được mau đầy đủ tất cả những chỗ mong cầu” mà nói ra Thần Chú này.Ngài cho biết lý do ra đời của Thần Chú như sau: Vào vô lượng ức kiếp về trước, Phật Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Như Lai, vì tâm thương tưởng đến chúng sanh nên đã nói ra thần chú Đại Bi và khuyến khích Bồ Tát Quán Thế Âm nên thọ trì tâm chú này để mang đến lợi ích an vui lớn cho chúng sanh trong đời vị lai. Bồ Tát Quán Thế Âm lúc bấy giờ mới ở ngôi sơ địa khi nghe xong thần chú này liền chứng vượt lên đệ bát địa. Vui mừng trước oai lực của thần chú, Ngài bèn phát đại nguyện: “Nếu trong đời vị lai, con có thể làm lợi ích an vui cho tất cả chúng sanh với thần chú này, thì xin khiến cho thân con liền sanh ra ngàn mắt ngàn tay”. Lập tức, Ngài thành tựu ý nguyện. Từ đó, hình ảnh của vị Bồ Tát Quán Thế Âm ngàn tay ngàn mắt trở thành một biểu tượng cho khả năng siêu tuyệt của một vị Bồ Tát mang sứ mệnh vào đời cứu khổ ban vui cho tất cả chúng sanh. Ngàn tay, ngàn mắt nói lên cái khả năng biến hóa tự tại, cái dụng tướng vô biên của thần lực Từ bi và Trí huệ tỏa khắp của Bồ Tát Quán Thế Âm. Ngàn mắt để có thể chiếu soi vào tất cả mọi cảnh giới khổ đau của nhân loại và ngàn tay để cứu vớt, nâng đỡ, như Đức Phật giải thích với Ngài A Nan ở trong kinh, “tiêu biểu cho hạnh tùy thuận các sự mong cầu của chúng sanh”.Kinh và Thần chú Đại Bi sau đó đã được ngài Dà-Phạm-Đạt-Ma (Bhagavaddharma: có nghĩa là Tôn Pháp) một Thiền sư Ấn Độ, du hóa qua Trung Quốc vào niên hiệu Khai Nguyên đời nhà Đường dịch và chuyển âm từ tiếng Phạn qua tiếng Trung Hoa và được Hoà Thượng Thích Thiền Tâm chuyển ngữ qua tiếng Việt. Với oai lực và linh nghiệm đã được chứng minh qua không gian và thời gian, thần chú Đại Bi đã được trân trọng trì tụng trong các khoá lễ, các nghi thức tụng niệm chính của các quốc gia theo truyền thống Phật giáo Đại thừa như : Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam,…2. Công Năng và Oai Lực của Thần Chú Đại Bi.Muốn biết công năng, oai lực của Thần Chú Đại Bi, ta nên tìm hiểu xem mục đích, hạnh nguyện của Bồ Tát Quan Thế Âm khi Ngài ban phát thần chú này. Bồ Tát Quán Thế Âm đã phát nguyện rằng: Nếu chúng sanh nào tụng trì thần chú Đại Bi mà còn bị đọa vào ba đường ác, không được sanh về các cõi Phật, không được vô lượng tam muội biện tài, Ngài thề sẽ không thành chánh giác. Ngài còn nhấn mạnh: Nếu trì tụng thần chú Đại Bi, mà tất cả những mong cầu trong đời hiện tại nếu không được vừa ý, thì thần chú này sẽ không được gọi là Đại Bi Tâm Đà Ra Ni, ngoại trừ những kẻ mong cầu những điều bất thiện hoặc tâm không được chí thành. Hơn thế nữa, Bồ Tát còn cho ta biết ngay cả đối với những kẻ phạm những tội ác nghiệp nặng nề như thập ác ngũ nghịch, báng pháp, báng người, phá giới, phạm trai, hủy hoại chùa tháp, trộm của tăng kỳ, làm nhơ phạm hạnh nếu trì tụng thần chú Đại Bi thảy đều được tiêu trừ. Vì sao thế? Kinh Đại Bi cho biết mỗi lần hành giả trì tụng thần chú này, tất cả mười phương chư Phật đều đến chứng minh, cho nên tất cả các tội chướng nhờ ân đức của chư Phật độ trì, thảy đều tiêu diệt.Oai lực lớn lao của Thần Chú đã được chính Đức Thế Tôn giảng rõ trong Kinh Đại Bi Tâm Đà-Ra-Ni:-”Ngài A Nan bạch Phật rằng:Bạch Đức Thế Tôn! Chú này tên gọi là chi? Con nên thọ trì như thế nào?– Đức Phật bảo : Thần chú này có những tên gọi như sau :o Quảng Đại Viên Mãn Đà-Ra-Nio Vô Ngại Đại Bi Đà-Ra-Nio Cứu Khổ Đà-Ra-Nio Diên-Thọ Đà-Ra-Nio Diệt-Ác-Thú Đà-Ra-Nio Phá Ác-Nghiệp-Chướng Đà-Ra-Nio Mãn-Nguyện Đà-Ra-Nio Tuỳ-Tâm Tự-Tại Đà-Ra-Nio Tốc Siêu Thượng Địa Đà-Ra-Ni.”Từ lời dạy trên của Đức Phật với ngài ANan, chúng ta hiểu được những công năng chính của thần chú:Bất cứ một ai khi trì tụng thần chú Đại Bi với tất cả tâm thành, chắc chắn sẽ đạt được tất cả những điều mong cầu, ước nguyện bởi vì oai lực của Thần chú là rộng khắp, vô biên, không có gì có khả năng ngăn ngại nỗi. Trong cõi dục giới này, con người đâu có mong cầu điều gì hơn ngoài an lạc, hạnh phúc và sống lâu. Thần chú Đại Bi sẽ giúp mọi người đạt được những ước muốn này như Bồ Tát Quán Thế Âm đã khả hứa.Một công năng khác của Thần chú là cứu khổ. Những lúc ta lâm cảnh hoạn nạn, đau thương, cùng khổ, tuyệt vọng, bi đát nhất; những lúc mà ta thấy mình rơi vào con đường cùng, bế tắc, không còn lối thoát; hãy vững niềm tin vào Đức Bồ Tát Quán Thế Âm, nhất tâm trì tụng Thần chú Đại Bi, chắc chắn Ngài sẽ giúp ta những phương tiện thiện xảo, đưa ta vượt qua cảnh khổ đến nơi an lạc, hạnh phúc. Tuy nhiên, để Thần chú phát huy được oai lực của nó, khi trì tụng ta phải tự mình quán chiếu tại sao ta lại rơi vào cảnh khổ mà người khác lại không, và tại sao Thần chú lại có công năng cứu khổ? Giáo lý của nhà Phật cho chúng ta biết rằng tất cả mọi việc trên cỏi đời này không có gì xảy ra một cách ngẫu nhiên. Tất cả những đau thương bất hạnh mà ta phải gánh chịu trong kiếp sống hiện tại: gông cùm tù tội, bệnh hoạn, nghèo hèn,… là kết quả của những ác nghiệp mà ta đã gây nên từ bao kiếp trước hoặc trong kiếp này, nay đến lúc ta phải trả. Sở dĩ Thần chú Đại Bi có khả năng đưa ta vượt qua khỏi cơn khổ nạn vì công năng siêu tuyệt của nó là Phá Ác Nghiệp Chướng như đã nói ở trên.Thần chú này còn có tên gọi là Diệt Ác Thú. Nghe đến công năng này, một người sẵn mang tâm từ bi tất sẽ không khỏi sinh lòng nghi ngại. Ta đang trì tụng Thần chú Đại Bi vì phát khởi tâm Đại Từ Bi, nghĩa là yêu thương muôn loài không phân biệt thì tại sao lại phải Diệt Ác Thú trong khi ác thú cũng là một loại chúng sanh cần được thương yêu, cứu vớt? Tuy nhiên, muốn hiểu rõ công năng này, trước tiên ta hãy tự đặt mình vào hoàn cảnh sống của những cư dân ở những chốn rừng thẳm, non cao, đặc biệt là những quốc gia thuộc vùng nhiệt đới như Ấn Độ, nơi đầy dẫy những ác thú như hùm, beo, rắn rết… luôn luôn là một mối đe dọa lớn cho sinh mạng con người. Không phải từ thời Đức Phật còn tại thế mà ngay cả đến bây giờ, hàng năm đã có một số lượng lớn người bị mất mạng vì ác thú, vì thế để cho ác thú khỏi xâm phạm ta, Bồ Tát đã cho ta thần chú Đại Bi, không có nghĩa là mỗi khi gặp chúng, hành giả đọc thần chú này lên thì tất cả ác thú đều ngả lăn ra chết, mà phải nên hiểu rằng, đối với một người hành trì thần chú Đại Bi hằng ngày một cách nghiêm túc, bên cạnh oai lực che chở hộ trì của chư thần, long, thiên, hộ pháp, ở người trì chú cũng tự động phát ra một nguồn năng lực mà không phải chỉ riêng đối với ác thú, ngay cả các loài độc trùng khác cũng đều phải lánh xa.Tuy nhiên, đối với người quyết chí dấn bước trên con đường tu học, hai công năng quan trọng nhất của Thần chú Đại Bi là tùy tâm tự tại và tốc siêu thượng địa. Ta đang gặp khó khăn trong Thiền định, tâm ta loạn động không an trụ, thần trí ta hoang mang hoảng hốt không thể nào tập trung được vào việc hành thiền, từ trước đến nay ta đã tìm thử đủ mọi phương pháp mà vẫn không kết quả, thì nay Thần chú Đại Bi sẽ là một phương tiện hiệu quả giúp ta an tâm, giải phóng tâm thức ta ra khỏi những vọng động, âu lo của cuộc sống thường nhật, chắc chắn đưa ta bước vào cảnh giới thiền một cách mau chóng và rốt ráo, rồi từ đó Thần chú sẽ giúp ta thăng tiến mau chóng vào những nấc thang thiền kế tiếp, vấn đề nhanh hay chậm là do duyên nghiệp của mỗi cá nhân, tuy nhiên kết quả là chắc chắn, vì trong Kinh Bồ Tát Quán Thế Âm đã từng cho chúng ta biết rằng Ngài chỉ mới nghe qua Thần chú này một lần, đã nhanh chóng chứng quả từ ngôi sơ địa lên ngôi bát địa.Vì những lý do trên mà thần chú này có tên gọi là Quảng-Đại Viên-Mãn Vô-Ngại Đại-Bi-Tâm Đà-Ra-Ni. Bởi vậy, Phật tử không nên khinh xuất khi trì tụng chú Đại Bi mà phải tinh tấn và chí thành, cung kính, giữ đúng lễ nghi. Tin tưởng vào lòng thương yêu chúng sanh và khả năng hộ trì của Bồ Tát Quán Thế Âm, hành giả có thể hành trì Thần chú Đại Bi như là phương tiện chính của Thiền định trong khả năng tập trung năng lực cũng như thiền quán hầu đạt đến an lạc hạnh phúc trong cuộc sống thường ngày và từng bước tiến đến cứu cánh giải thoát, giác ngộ.3. Hình Trạng, Tướng Mạo của Đại Bi Thần Chú (Mười Đặc Tính của Đại Bi Tâm).Ta đang trì tụng Đại Bi Thần Chú. Vậy trước tiên ta cũng nên biết Chú là gì? Đại Bi Thần Chú liên hệ như thế nào đến Mật Tông?Chú còn được biết dưới những tên gọi khác là Thần Chú, Chân Ngôn hay Mật ngôn, tiếng Phạn là Đà La Ni (Dhàrani), tức là những câu nói bí mật của chư Phật, chư Bồ Tát. Những mật ngôn này đối với phái Mật Tông được sử dụng như là những mật mã để chuyển âm những lời cầu nguyện của người hành trì đến với chư Phật, chư Bồ Tát trong khắp mười phương và được các ngài mau chóng cảm nhận để giúp đỡ hộ trì.Đà La Ni được dịch qua tiếng Trung Hoa có nghĩa là Tổng Trì, tức là một loại thần lực có năng lực thâu nhiếp cùng bảo trì tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian không cho các thiện pháp bị tán loạn và ngăn che các ác pháp không cho phát sanh.Tuy thần chú là những lời nói nhiệm mầu, bí mật của chư Phật, chư Bồ Tát ta khó thể lãnh hội được nội dung, ý nghĩa nhưng điều này không có nghĩa là khi trì tụng Thần chú Đại Bi ta chỉ đọc tụng lên một cách máy móc. Một khi đã biết được công năng và oai lực của Thần chú Đại Bi sẽ giúp ta hiểu được tướng mạo của Thần Chú Đại Bi, hay nói một cách rõ ràng hơn, đặc tính của Đại Bi Tâm. Những đặc tính này đã được Bồ Tát Quán Thế Âm giải thích rõ ở trong kinh khi đáp lại lời thỉnh cầu của vua trời Đại Phạm Thiên Vương, đó là :o Tâm Đại Từ Bio Tâm Bình Đẳngo Tâm Vô Vio Tâm Chẳng Nhiễm Trướco Tâm Không Quáno Tâm Cung Kínho Tâm Khiêm Nhườngo Tâm không Tạp Loạno Tâm Không Chấp Giữo Tâm Vô Thượng Bồ ĐềTâm là đối tượng của Thiền định. An tâm hay định tâm là mục tiêu của hành giả khi hànhThiền. Trong những giai thoại liên quan đến Thiền học chắc chắn ta đã từng được nghe hơn một lần những mẫu chuyện liên quan đến đề tài này. Câu chuyện “an tâm” giữa Bồ Đề Đạt Ma và Tổ Huệ Khả là một thí dụ nổi tiếng.Hành giả tu tập thiền định có thể nương vào thần lực của Thần Chú Đại Bi, như là một phương tiện để định tâm và do khả năng chuyên chở mầu nhiệm của những âm thanh vi diệu này, hoà nhập vào bản thể của chân tâm, đạt đến cứu cánh giải thoát, niết bàn. Chân tâm là Phật tánh, vốn thường hằng, hiện hữu trong mỗi chúng sanh. Ta không thấy được chân tâm của mình vì vô minh, vì tội ác, nghiệp chướng như rong rêu tích tụ từ hằng hà sa số kiếp đang bao phủ nó. Bồ Tát Quán Thế Âm hằng thương yêu lo lắng cho chúng sanh đã giúp ta phương tiện diệu dụng là Thần chú Đại Bi, như chỉ cho ta một con đường tắt để hành trì tu tập, mau chóng tiến đến niết bàn. Trì tụng Thần chú Đại Bi chắc chắn sẽ làm vỡ ra những mảng tội ác, nghiệp chướng đã đeo đẳng, dính cứng vào thân ta từ bao đời, oai lực của nó sẽ như ngọn đuốc bùng lên giữa đêm dài vô minh tăm tối, làm bừng sáng, tỏ ngộ chân tâm. Mỗi tướng mạo của Thần Chú Đại Bi vì thế có thể là một đề mục lớn về Thiền quán cho hành giả suy gẫm trong khi hành thiền đồng thời là một mục tiêu để vươn tới trong hành trì tu tập.Xuyên suốt và bao trùm lên tất cả là Tâm Đại Từ Bi, tức là tâm thương xót và ý hướng, quyết tâm cứu khổ. Khởi tụng thần chú Đại Bi cũng có nghĩa là khởi phát lòng thương xót đến tất cả chúng sanh. Trong cuộc sống đấu tranh đầy khắc nghiệt để sống còn, khi “con người là chó sói của người”, bất hạnh của kẻ khác đôi khi mang lại lợi lạc cho chính ta, lòng từ của con người đã bị thui chột. Nhưng nếu quả thật nhân loại cần tình thương như một chất liệu để nuôi dưỡng đời sống và để thăng hoa, Thần Chú Đại Bi chắc chắn sẽ là dòng nước cam lồ tưới lên cành cây khô thui chột, và từ đó hạt giống từ bi sẽ nẩy mầm trong mỗi chúng ta.Mối liên hệ giữa Từ Bi và Trí Tuệ là một mối liên hệ duyên khởi. Thành tựu Tâm Đại Bi là điều kiện để phát sinh Trí Tuệ Bát Nhã, và Tâm Bình Đẳng tức Tâm “Vô phân biệt trí”cũng từ đó phát sinh. Tâm bình đẳng tức là tâm không phân biệt trong nhận thức và đối xử đối với chúng sanh. Không còn thân, không còn sơ, không còn màu da, chủng tộc, phái tính, không còn nghèo giàu sang hèn, không còn loài này và loài khác, chư thiên, trời, người, súc sanh, ngạ quỹ… tất cả đều bình đẳng, đều là đối tượng được thương yêu và cứu trợ khi cần thiết, bởi vì tất cả đều mang Phật tánh, đều là những vị Phật tương lai. Với Tâm Bình đẳng phát triển, mỗi hành giả sẽ là một hiện thân của Bồ Tát Thường Bất Khinh với đầy đủ tâm cung kính, tâm khiêm nhường trong cung cách sống và cư xử với mọi loại chúng sanh.Có thể xem Tâm Đại Từ Bi, Tâm Bình Đẳng là hành trang cần thiết để đi vào Tâm Không quán. Thực hiện Tâm không quán tức là bước đầu đi vào triết học tánh Không của đạo Phật, là bắt đầu bước vào cửa ngỏ “Vô Môn Quan”, thấy được chân như, tự tánh. Có thể coi Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh là một diễn giải đầy đủ ý nghĩa của Tâm không quán: “Quán Tự Tại Bồ Tát -một tên gọi khác của Bồ Tát Quán Thế Âm- hành thâm Bát Nhã, thường chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”: Bồ Tát Quán Thế Âm khi chứng được Trí Tuệ thâm sâu, Ngài thấy vũ trụ muôn sanh kết hợp trên dòng sông năm uẩn. Các pháp đều do nhân duyên sanh, không có tự tánh, không có sanh diệt, không có thêm bớt, không có tạo tác. Nhờ vậy Đức Quán Thế Âm thoát ra khỏi mọi khổ đau, ách nạn.Tâm Không quán vì thế cũng bao gồm cả Tâm không nhiễm trước, Tâm không tạp loạn, Tâm không chấp giữ, tức là thực chứng Trí Tuệ Bát Nhã để từ đây hành giả sẵn sàng tiến thêm một bước cuối cùng đạt đến Tâm Vô Vi, Tâm Vô thượng bồ đề, tức cứu cánh giác ngộ, giải thoát.Một cách tóm tắt, khi thấy được tướng mạo của Thần chú Đại Bi, mỗi khi trì tụng thần chú này hành giả phải phát tâm bồ đề rộng lớn, thề độ tất cả muôn loài, đối với chúng sanh phải khởi lòng bình đẳng và phải thường nên trì tụng chớ nên gián đoạn. Thần Chú Đại Bi chắc chắn sẽ là phương tiện diệu dụng giúp hành giả mau chóng đạt đến kết qủa trong Thiền định.4. Vận Dụng Thần Chú Đại Bi Vào Thiền ĐịnhNhư đã nói ở trên, muốn đạt đến cứu cánh giác ngộ không thể không thông qua phương pháp thiền định. Nhưng khi nghe nói đến Thiền, một người Phật tử bình thường khó hình dung ra nổi và nghĩ đến nó như là một cái gì đó mông lung, trừu tượng, huyền bí. Thậm chí Phật tử rất hoang mang vì trong thời đại hiện nay, có rất nhiều loại “thiền” khác nhau xuất hiện trên thị trường, được khai thác nhằm mục đích thương mãi hơn là giúp con người đạt đến bến bờ giải thoát, và đôi khi biến Thiền trở thành một cái “mốt” thời thượng làm người ta bối rối và dễ bị mê lầm. Cho nên, để có thể tu tập đúng hướng, hành giả cần phải có một số nhận thức căn bản đúng đắn về các loại Thiền Phật giáo.5. Khái niệm về các loại Thiền Phật Giáo:Thiền chỉ (Thiền định) và Thiền quán (Thiền minh sát).Thông thường khi nói đến Thiền là người ta thường nghĩ ngay đến thiền đốn ngộ, đến “dĩ tâm truyền tâm”, đến những công án hóc búa… Hình ảnh của những vị Thiền sư “hoát nhiên đạt ngộ” khi tâm thức bùng vỡ trước tiếng thét của một bậc minh sư, khi soi mặt mình trên một vũng nước mưa đọng trước hiên nhà… bỗng trở thành như những câu chuyện thần thoại, người căn cơ thấp kém khó mà lãnh hội được ý nghĩa của sự đạt ngộ này. Như vậy phải chăng Thiền là một thứ “xa xỉ phẩm” chỉ dành riêng cho những bậc thượng căn đã đứng mấp mé ở bên bờ giác ngộ, chỉ cần chờ một sự khai thị đúng lúc là tỏ ngộ chân lý? Dĩ nhiên Thiền không phải hoàn toàn như thế, bởi lẽ nếu hiểu Thiền theo cung cách này thì lịch sử của tông phái Thiền Phật giáo trong suốt bao nhiêu thế kỷ qua chỉ sản xuất ra được mấy chục vị Tổ!Phải nên hiểu rằng các pháp hành thiền, như đã được lưu truyền đến nay trong kinh điển, đều được căn cứ trên những phương pháp mà chính Đức Phật đã áp dụng, căn cứ trên sự kinh nghiệm của chính bản thân Ngài trong suốt quá trình tu tập, trau giồi và phát triển tâm, pháp môn hành thiền đó đã đưa Ngài đến đạo quả Vô Thượng Bồ Đề và Niết Bàn.Để kiểm soát, uốn nắn và giải phóng tâm Phật giáo có hai loại Thiền chính yếu sau đây:– Thiền chỉ hay Thiền định(samatha bhavana hay samadhi): là gom tâm vào một điểm, hay thống nhất, tập trung tâm vào một đề mục (cittekaggata, Sanskrit là cittaikagrata, nhất điểm tâm), tức là an trụ tâm.– Thiền Quán hay Thiền Minh Sát (vipassana, Sanskrit là vipasyana hay vidarsana), – cũng gọi là thiền tuệ – tức là hướng tâm soi vào đời sống để chứng ngộ thực tướng của vạn pháp.Thiền quán đã được một vị danh tăng Phật giáo đương đại, Đại Đức Piyadassi giải thích như sau:“… Danh từ vipassanà (vi + passanà), trong một biến thể, có nghĩa là “thấy một cách phi thường”, thấy khác với lối thấy thông thường, do hai thành phần “passati” là thấy và “vi” hàm ý đặc biệt, khác lạ hơn thông thường. Như vậy, vipassanà là thấy vượt ra ngoài cái gì thông thường, là minh tuệ. Đây không phải là nhìn thoáng qua. Cũng không phải chỉ nhìn bên trên bề mặt, ở mặt ngoài mà nhìn sâu vào bên trong Thực Tại của đời sống. Chính nhờ cái nhìn sâu sắc căn cứ trên tâm hoàn toàn vắng lặng ấy mà hành giả tẩy sạch mọi bợn nhơ, mọi ô nhiễm ngủ ngầm để thành mục tiêu cuối cùng, Niết Bàn. Thiền minh sát (vipassanà bhàvanà) là loại thiền mà chính Đức Phật đã tìm ra, đã thực hành, đã thành công và đã ban truyền, trước kia chưa từng có, và ngoài Phật Giáo không có …” ()Pháp hành “thiền chỉ” trong Phật Giáo đưa đến tột đỉnh là đắc Thiền (Jhana), trong khi pháp hành “thiền quán” dẫn đến bốn tầng Thánh mà bậc Thánh cuối cùng là A La Hán, hay tiến thêm một bước nữa là đạt qủa vị Phật, giải thoát.Cứu cánh tu tập của chúng ta dứt khoát là không nhắm đến trạng thái Định hay thư giản. Ta vận dụng công năng, oai lực của Thần Chú Đại Bi -bằng cách chuyên tâm trì tụng Thần chú này một số biến nhất định- như là một pháp hành của Thiền Chỉ, và chỉ xem đó như là một cổ xe đưa ta đến bến bờ giác ngộ. Cho nên, khi tâm đã an trụ vững vàng, chúng ta bắt đầu bước vào Thiền minh sát, lúc này dùng hình trạng và tướng mạo của Thần chú Đại Bi làm nội dung thiền quán: Tâm Đại Từ Bi, Tâm Bình Đẳng, Tâm Vô Vi,Tâm Không Quán… và nên được bắt đầu bằng Tâm Đại Từ Bi.Tại sao chúng ta bắt đầu nội dung Thiền quán bằng Tâm Đại Từ Bi? Trước tiên, đây là một yêu cầu của Bồ Tát. Trì Chú Đại Bi sẽ không linh nghiệm nếu không được phát khởi bằng Đại Bi tâm. Thứ hai, khi chọn phương pháp thiền định dùng Thần Chú Đại Bi như là phương tiện – vắn tắt xin được tạm gọi là Thiền Quán Âm- chúng ta đã phát tâm noi theo hạnh nguyện ban vui cứu khổ của Đức Bồ Tát Quán Thế Âm, tự nguyện trở thành một cánh tay, một chiến sĩ trong đạo quân tình thương của Ngài, đem gieo rắc ánh sáng từ bi đến khắp muôn loài chúng sanh, góp phần xây dựng một cỏi Tịnh Độ Nhân Gian trên cõi thế. Thiền Quán Âm như thế là một loại thiền tích cực, đi thẳng vào đời sống, tác động vào đồng loại, chúng sanh và môi trường sống. Hành giả khi dùng Thiền quán sẽ vận dụng Tâm Đại Bi làm ngọn đuốc soi đường, rọi chiếu vào tất cả ngỏ ngách tâm linh và hành động của chính mình trong từng mỗi phút giây hiện tại.6. Làm Thế Nào Để Thực Hiện Đại Từ Bi Tâm Quán? Từ Bi Quán là phương thức để huân tập lòng Từ Bi. Trong Phật giáo có rất nhiều phương pháp Từ bi quán mà cố Hoà Thượng Thích Thiện Hoa đã giảng rõ trong cuốn “Phật Học Phổ Thông”, ở đây xin được tóm tắt lại bằng ba phép quán từ thấp đến cao như sau :a. Quán chúng sinh duyên từ: Quán sát cảnh khổ của chúng sinh ở trong cõi dục giới mà phát khởi lòng từ.o Những kẻ bị đọa ở địa ngục hiện đang bị hành phạt, loài ngạ quỷ đói khát..o Loài súc sanh (trâu, bò heo, gà…) bị hành hình, phân thây xẻ thịt làm thức ăn cho loài khác…o Loài a tu la phải đấu tranh chém giếto Chúng sanh ở cõi trời khi hết phước đức cũng phải bị đọa lạco Những cảnh khổ của kiếp người…Thấy được những cảnh khổ của chúng sinh, để cho lòng từ bi phát khởi, Phật dạy ta phải xem tất cả chúng sinh như là bà con thân thuộc trong một đại gia đình. Nhân loại như đang sống trong một ngôi nhà lớn và rộng ra các loài khác cũng là thành phần của một đại gia đình, do nghiệp duyên ràng buộc, có thể họ đã là bà con quyến thuộc của ta trong kiếp trước hoặc sẽ là anh em cha mẹ ta trong những kiếp tương lai…b. Quán Pháp duyên từ: Cao hơn một bậc, hành giả có thể quán sát thấy tất cả chúng sanh đều có chung pháp tánh cho nên nói như ngài Duy Ma Cật, “vì chúng sanh bệnh nên ta bệnh”, chúng sanh khổ nên ta khổ và vì thế ta tìm cách cứu độ chúng sanh. Ta cứu khổ nhưng không cần biết đối tượng được cứu khổ và cũng không chấp rằng ta đang cứu khổ vì ta và chúng sanh đã đồng một bản thể, đồng một pháp giới tánh.c. Quán Vô duyên từ: Đây là lòng từ bi của chư Phật, theo thể tánh chơn tâm mà phát ra, bao la trùm khắp, không thiên lệch một nơi nào như ánh sáng mặt trời chiếu rọi khắp gần xa một cách vô tư, không dụng công và không bỏ sót một nơi nào. Loại này chúng ta chỉ biết qua chứ không áp dụng vào thiền tập vì quá cao siêu.7. Thần Chú Đại Bi, Một Con đường tắt đến Tịnh ĐộNói đến Thần Chú Đại Bi, nói đến tu tập Thiền định, ta không thể không nói đến Tịnh Độ. Tại sao? Bởi vì chuyện sinh tử là chuyện quan trọng của đời người. Ta nhận thức được rằng kiếp sống thế gian rất ngắn ngủi và ta cũng không muốn luẩn quẩn mãi trong cảnh luân hồi sinh tử cho nên ta tu tập để mong cầu vươn đến một cảnh giới đích thực, vĩnh cữu. Cảnh giới đó có thể mang tên là Niết Bàn. Cảnh giới đó cũng có thể là Tịnh Độ.Trước hết, khi nói đến Tịnh Độ, Phật tử thường liên tưởng ngay đến một cảnh giới cực lạc. Đó là một cảnh giới lý tưởng, đẹp đẽ, an lành mà bất cứ người con Phật nào cũng thường ước mơ được vãng sanh đến sau khi từ giã cõi đời. Đức Thế Tôn đã tuyên xưng rất nhiều cảnh giới Tịnh Độ trong các kinh sách, mà đặc biệt là cảnh giới Tây phương Cực lạc của Phật A Di Đà. Để đạt đến cảnh giới này, pháp môn Tịnh Độ đặt nền móng tu tập trên ba nguyên tắc căn bản: Tín, Nguyện và Hạnh. Trước hết là lòng tin. Ta tin có sự hiện hữu của cõi Tịnh Độ Tây phương do Đức A Di Đà làm giáo chủ. Tin như thế ta Nguyện sẽ được vãng sanh về cảnh giới này. Nguyện được thể hiện bằng Hạnh qua phương thức trì danh, tức là trong suốt hành trình tu tập của mình ta phải hành trì pháp môn niệm Phật A Di Đà cho đến “nhất tâm bất loạn”, thì chắc chắn sẽ được Ngài tiếp dẫn ta về cảnh giới này sau khi ta từ giã cõi đời.Một cảnh giới Tịnh Độ khác cũng thường được Đức Thế Tôn nhắc tới đó là cung trời Đâu Suất (Tutsia) của Di Lặc, vị Bồ Tát đã được Phật Thích Ca thọ ký sau này sẽ trở xuống cõi trần thành lập hội Long Hoa và trở thành vị Phật tương lai. Nỗ lực của Ngài là hóa độ quần sanh, biến cõi nhân gian thành Tịnh Độ. Quan niệm Tịnh Độ này rất phù hợp với niềm tin và hạnh nguyện của người tu tập theo pháp hành Thiền Quán Âm bởi tính tích cực của nó. Bắt nguồn từ phương châm “Học Phật đạo, hành Bồ Tát đạo”, ta sẽ không bao giờ mong cầu mình được sanh về một thế giới cực lạc, hoặc Niết Bàn cho riêng mình. Đây là thông điệp chính yếu của Thần chú Đại Bi, tiếng Phạn là Maha Karuna, mà Karuna có nghĩa là “ngưng tìm kiếm hạnh phúc”. Ta ngưng tìm kiếm hạnh phúc, Niết bàn cho chính ta khi muôn loài chúng sanh chưa hạnh phúc, an lạc, chưa đạt được cảnh giới Niết Bàn, như Đức Di Lặc đã thuyết trong kinh Trang Nghiêm Minh Giác: “Với từ bi ta không trụ nơi cực lạc an bình”, có nghĩa là với Đại Từ Bi ta không mưu cầu sự giải thoát cá nhân.Như vậy, nếu hiểu Tịnh Độ là pháp môn dựa trên căn bản Tín, Nguyện, Hạnh, thì phương pháp hành Thiền sử dụng Thần Chú Đại Bi cũng không xa lìa pháp môn Tịnh Độ, chỉ khác một điểm nhỏ là thay vì trì tụng danh hiệu Phật A Di Đà, chúng ta trì tụng danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại Bi Thần Chú. Đến đây, những hành giả bị ảnh hưởng sâu đậm bởi tư tưởng Tịnh Độ -những người thường lo lắng đến hậu sự- chắc chắn sẽ nêu ra câu hỏi: Nhưng rồi sau khi quá vãng, chúng ta, những người tu tập Thiền định -Thiền Quán Âm, nếu không đạt được giác ngộ trong hiện kiếp sẽ vãng sanh về đâu? Thưa bạn, câu hỏi đặt ra thật đúng lúc, vì qủy vô thường có thể đến thăm viếng ta bất cứ lúc nào, tốt hơn hết là ta nên chuẩn bị. Tuy nhiên, bạn cũng đừng phí thì giờ để lo nghĩ nhiều đến vấn đền này vì bạn nhớ không, trong kinh Đại Bi, Bồ Tát Quán Thế Âm đã khả hứa với chúng ta rằng những người trì tụng thần chú Đại Bi chắc chắn sau khi chết sẽ không bị rơi vào con đường ác đạo. Những điều Bồ Tát đã hứa là chắc chắn không thể nào thay đổi, có nghĩa là bạn đã biết chắc một điều rằng mình sẽ không bao giờ bị rơi vào con đường ngạ quỹ, địa ngục hay súc sanh. Như vậy vấn đề còn lại quả thật rất đơn giản: Bạn có quyền tự do lựa chọn cảnh giới Tịnh Độ mà mình mong muốn để được vãng sanh kể cả về Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Tuy nhiên, do noi theo hạnh nguyện cứu khổ cứu nạn của Bồ Tát Quán Thế Âm, người hành Thiền Quán Âm như đã nói ở trên, không phải chỉ mưu cầu giải thoát cho riêng cá nhân mình mà còn muốn bắt tay vào việc cãi thiện xã hội, môi trường, xây dựng một cõi Tịnh Độ nhân gian trên cõi thế, cho muôn loài chúng sanh, trong thời đại mà chúng ta đang sống cho nên gần gũi hơn với Tịnh Độ Di Lặc. Do tính cách tích cực đó, xin được đề nghị thêm với bạn ba cảnh giới sau đây để suy nghĩ và chọn lựa. Sau khi đã có quyết định, bạn phải phát nguyện ngay cùng Bồ Tát Quán Thế Âm để Ngài thọ ký cho và chắc chắn bạn sẽ được Ngài hiện đến tiếp dẫn trước phút lâm chung, hướng dẫn bạn đến cảnh giới mong cầu:o Tái sanh trở lại cõi trần tiếp tục hành Bồ tát đạo, hoằng pháp lợi sanh, biến cõi nhân gian thành Tịnh Độ.o Về cảnh giới của Bồ Tát Địa Tạng, tức là xuống cõi địa ngục tiếp tục tu tập cùng Bồ Tát, thực hành công hạnh theo lời nguyện: “Nếu con hướng về cõi địa ngục, địa ngục liền mau tự tiêu tan”.o Về cõi Trời Đâu Suất của Bồ Tát Di Lặc để tiếp tục tu học, cho đến khi nào Bồ Tát giáng trần ta sẽ cùng theo chân Ngài trở lại cõi thế dự hội Long Hoa.Tuy nhiên, xin được nhắc lại một lần nữa, điều quan trọng nhất là chúng ta hiện đang sống trong cõi thế này, trong giây phút hiện tại này, cho nên công việc trước mắt của người Phật tử chúng ta là phải bắt tay ngay vào việc xây dựng một cõi Tịnh Độ Nhân Gian, tức cũng là cõi Tịnh Độ Di Lặc mà mọi Phật tử đều mong cầu, mơ ước. Đó cũng chính là thông điệp của Thần Chú Đại Bi.Xin chắp tay trì tụng và hồi hướng công đức vô lượng của Thần Chú này đến muôn loài chúng sanh…Thần Chú Đại Bi: Viên Ngọc Của Người Cùng Tử
Tâm Hà Lê Công ĐaNhân ngày Vía Bồ Tát Quán Thế Âm Thành Đạo, 19/6.() trích dẫn từ bản dịch của Cư sĩ Phạm Kim Khánh.
Nguồn Website Niemphat**
Chùa Linh Ứng Sơn Trà được xem là cõi Phật giữa chốn trần gian. Chùa nằm trên đỉnh núi thuộc Bãi Bụt, bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng (nhiều người gọi là Chùa Linh Ứng Bãi Bụt hoặc là Chùa Linh Ứng Sơn Trà - vì Đà Nẵng có đến 3 Chùa Linh Ứng) hướng nhìn ra biển Đông, một bên là đảo Cù lao Chàm, phía bên kia là ngọn Hải Vân phía còn lại là dòng sông Hàn yên ả đang đổ về cửa biển.
| Chùa Linh Ứng Bãi Bụt được khởi công xây dựng từ tháng 07/2004 và khánh thành ngày 30/07/2010; đến nay chùa vẫn còn tiếp tục xây dựng thêm nhiều hạng mục.Chùa ở độ cao 693 mét so với mực nước biển, với diện tích 20 héc ta, trên địa hình một bên núi, một bên biển. Chùa Linh Ứng Bãi Bụt là một quần thể nhiều hạng mục gồm chánh điện, nhà tổ, giảng đường, tăng đường và thư viện...Ngoài việc được biết đến như một ngôi chùa đẹp, lớn và… trẻ nhất trong 3 ngôi “Linh Ứng Tự” ở Đà Nẵng, Chùa Linh Ứng Bãi Bụt còn được biết đến bỡi nơi có tượng Phật Quan Thế Âm cao nhất Việt Nam.Bán đảo Sơn Trà còn là nơi giao hòa giữa biển trời với núi sông trong khoảng không trầm lặng, với tiếng vỗ rì rầm của biển cả và lời kể về một câu chuyện thuở xưa: Vào thời vua Minh Mạng, dân chài ven biển nơi đây tìm thấy một tượng Phật từ đâu trôi về, sóng đánh vào bãi cát, họ cho đấy là điềm lành, liền lập am thờ tự. Kể từ đó, sóng yên biển lặng, dân chài yên ổn làm ăn, cũng từ đó nơi đây có tên gọi là Bãi Bụt, hay còn gọi là Cõi Phật giữa chốn trần gian nơi Quan Thế Âm độ thế, cứu khổ, giúp con người vượt vòng trầm luân.Sau khi leo lên hết những bậc đá trên con đường dẫn vào chùa, bước qua cổng chính, ngay trên lối vào chính điện, nằm giữa trung tâm của khoảng sân rộng với những hàng cây cảnh đẹp mắt là tượng Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, bên phải là Quan Thế Âm Bồ tát, và bên trái là Tam Tạng Phật, bốn vị Thần Long Hộ Pháp cùng 18 vị La Hán được sắp xếp hai hàng bảo vệ cho chính điện. Phía bên trái là tượng Phật Quan Thế Âm cao 67m, đường kính tòa sen 35m được xem là cao nhất Việt Nam.Dưới chân đài sen của bức tượng luôn thu hút rất đông du khách và phật tử tới lễ Phật và thưởng ngoạn nét đẹp từ bi của bức tượng có một không hai này. Trong lòng tượng có 17 tầng, mỗi tầng đều có bệ thờ tổng cộng 21 bức tượng Phật với hình dáng, vẻ mặt, tư thế khác nhau, gọi là “Phật trung hữu Phật”. Tượng đứng tựa lưng vào núi, hướng ra biển, đôi mắt hiền từ nhìn xuống, một tay bắt ấn tam muội, tay kia cầm bình nước cam lồ như rưới an bình cho những ngư dân đang vươn khơi xa. Cảnh quan gian chính điện kết hợp với bức tượng Phật Quan Thế Âm tạo nên một bức tranh toàn cảnh linh thiêng, thanh tịnh mà tao nhã như chốn bồng lai.Đến thăm chùa Linh Ứng, du khách thập phương còn có dịp tham quan bức tranh toàn cảnh của một đô thị đang trên đà phát triển mạnh mẽ. Từ chùa phóng tầm mắt về phía biển sẽ thấy bao quanh bởi một màu xanh bát ngát biển trời, bờ cát dài trắng mịn chạy vòng cung theo con đường dưới chân núi lấp lánh dưới cái nắng dịu của vùng bán đảo.Nếu đổi hướng nhìn về thành phố, những tòa nhà cao tầng nổi phía bên kia bờ sông Hàn như những ngọn tháp in trên nền trời xanh mây trắng. Trên con đường từ trung tâm thành phố ra bán đảo Sơn Trà, du khách sẽ dừng chân trên cầu Thuận Phước, cầu nằm vắt ngang đúng nơi con sông Hàn đổ về với biển. Đứng trên cầu, phóng tầm mắt về bốn phía mới thực sự cảm nhận được những nét đẹp của thiên nhiên, biển cả và sức sống mạnh mẽ của một thành phố tràn đầy sức sống.Dọc hai bên sân chùa là hai hàng tượng 18 vị La hán, những biểu tượng tín ngưỡng đặc thù dân gian. Cuộc đời của mỗi vị trong Thập bát La Hán đều mang những nét siêu nhiên kỳ bí nhưng cũng rất gần gũi dân gian.Điểm nổi bật nhất trong quần thể kiến trúc chùa Linh Ứng Bãi Bụt là pho tượng Quán Thế Âm bồ tát cao 67 mét, đường kính tòa sen 35 mét, nhìn hướng ra biển. Đây là tác phẩm của hai điêu khắc gia Thụy Lam và Châu Viết Thạnh. Trong lòng tượng có 17 tầng mỗi tầng đều có bệ thờ tổng cộng 21 pho tượng Phật với hình dáng vẻ mặt tư thế khác nhau gọi là “Phật trung hữu Phật”. Ban đêm, pho tượng này được chiếu sáng nổi bật trên nền trời, hầu như từ mọi vị trí ở Đà Nẵng nều có thể nhin thấy.Từ trên sân chùa, du khách có thể ngắm nhìn toàn cảnh thành phố, núi và biển quanh Đà Nẵng. Xa xa về phía nam là danh thắng Ngũ Hành Sơn, bãi biển Non Nước với bãi cát dài trắng mịn.Bên trong chánh điện rộng lớn, chính giữa thờ Phật Thích Ca, bên phải là thờ Quán Thế Âm bồ tát, bên trái thờ Địa Tạng Vương bồ tát. Ba pho tượng đều được đúc bằng đồng.Ngoài chánh điện, chùa còn có nhà tổ, giảng đường, tăng đường và thư viện ...Một số công trình phụ khác vẫn được tiếp tục xây dựng.Chùa Linh Ứng Bãi Bụt nay đã trở thành một điểm du lịch, tham quan hấp dẫn ở Đà Nẵng. Đường lên ngôi chùa trên núi này thật dễ dàng nhờ có một con đường tráng nhựa rộng rãi men theo sườn đồi đưa du khách lên tận nơi.Một số hình ảnh về Chùa Linh Ứng Bãi Bụt Sơn TràTừ chùa Linh Ứng nhìn về phía biển ĐôngTượng Bồ tát cao 67m, cao nhất Việt NamCác vị La Hán tại Chùa Linh Ứng Sơn TràBên trong Tòa Chánh ĐiệnBên ngoài Tòa Chánh ĐiệnKhuôn viên Chùa Linh Ứng từ Chánh Điện ra Cổng ChùaĐường lên Chùa Linh ỨngNguồn Dulichsontra.com |
Nguồn: Hải Nhân Lão Pháp Sư. Thích Toàn Châu dịch
Xin mạn phép kể:
Hồi năm 1965 (năm Ất Tỵ), tôi đang tu học tại Chùa Diệu Đế Huế, vào khoảng mồng 10 tháng 11 Ất Tỵ (âm lịch), có mấy đạo hữu đến cầu thỉnh Thầy tôi (cố Hòa Thượng Thích Diệu Hoằng, Trú trì Chùa Diệu Đế hồi đó) qua nhà họ để khai Kinh cầu an cho Mẹ họ đang bệnh nặng. Thầy tôi chấp nhận (Bà bệnh ấy là đệ tử Thầy tôi tên Phan Thị Nguyên, pháp danh Nguyên Thanh), kêu tôi đi theo và dặn: "Ông đem theo áo quần để qua đó ở lại tụng Kinh, và đem thêm Kinh Thủy Sám". Thầy tôi và tôi được rước bằng xích lô đạp qua đó vào buổi sáng. Đó là ngôi nhà xưa (cột v.v... bằng gỗ, lợp ngói), ba căn (không ngăn), thờ Phật ở căn giữa rất trang nghiêm đẹp đẽ. Giữa bàn kinh có bộ Kinh Địa Tạng 3 cuốn, bằng chữ Hán có in âm Việt bên cạnh, và Kinh Thiền Môn Nhựt Tụng, chuông mõ đầy đủ tốt. Người trong nhà cho biết, lúc còn khỏe cụ bà Nguyên Thanh đó hằng ngày thường tụng Kinh Địa Tạng.
Lúc đó chúng tôi thấy bà cụ Nguyên Thanh nằm trên một chiếc ghế gõ tốt (bức phản 4 tấm ván dày) cứ la đau rất lớn tiếng, các người con trai, con gái và dâu đứng xung quanh, người thì nhìn, người thì rờ xoa vào Mẹ họ, mà Bà cứ la đau không ngừng, họ chỉ biết đau lòng thôi, chẳng có cách nào hơn. Vì bà cụ ấy bị bệnh ung thư sưng một cục đỏ lớn ở một bên trước cổ, đã đưa đi chữa tại Sài Gòn, bác sĩ đã đầu hàng. Mấy người con ở Sàigòn, Đà Nẵng đành phải chở Bà về bằng máy bay, đợi ngày chết. Bà cứ nằm lăn qua trở lại kêu la đau, không ai chịu nổi. Thấy hiện trạng và thăm hỏi xong, họ đã đơm hoa quả dâng hương đèn trên bàn Phật, cầu thỉnh Thầy tôi làm lễ cầu nguyện. Hai thầy trò làm lễ khai Kinh xong, Thầy tôi dạy tôi: "Ông ở đây để hằng ngày tụng Kinh cho Bà. Tụng ba bộ Thủy Sám xong rồi tụng tiếp ba bộ Địa Tạng, mỗi ngày đêm tụng ba thời, mỗi thời một cuốn". Tôi vâng làm theo lời dạy đó, không có một chút ý niệm so tính bất thành kính nào. Cứ tụng và bái sám qua mỗi ngày cho bà thì thấy Bà nhẹ bớt cơn la đau. Tới sáng ngày 14 tháng 11 âm lịch là lệ thường làm lễ Bố Tát của quý Hòa Thượng và toàn thể chư tăng tại Chùa Linh Quang Huế (tới ngày đó thấy Bà đã hết la đau), tôi xin ông Nguyễn Thiện Hạp (con trưởng của bà) và trong nhà, để lên Chùa Linh Quang làm lễ Bố Tát như thường lệ mỗi tháng hai kỳ (tôi mới thọ Tỷ Kheo và Bồ Tát giới vào ngày 19 tháng 6 âm lịch năm đó). Nhưng lạ thay, tôi ở trong nhà đó thì Bà nằm êm đềm, tôi vừa ra khỏi nhà tới ngõ ra đường công cộng thì Bà la lên: "Thầy mô rồi, Thầy mô rồi! Đau quá mời Thầy vô gấp". Ông Hạp chạy ra mời tôi vô. Tôi trở vô thì Bà hết la đau và mừng. Tiếp những ngày sau đó Bà càng lành hẳn, chẳng còn nghe la đau. Điểm đặc biệt là Bà rất tin tưởng Phật Pháp. Trong những lúc tôi tụng Kinh thì Bà chuyên tâm lắng nghe và nằm chấp tay, càng về sau Bà càng khỏe còn ngồi dậy được chấp tay. Bà dặn người con gái (vợ ông Tống Phước Đại, xưa làm quan thuế tại Sài Gòn, giờ hai ông bà ấy đang ở tại Úc với các con họ) nhiều lần: "Phải lo cơm nước, thức ăn tươi tốt cho Thầy". Những lúc tôi không tụng Kinh, Bà hay nói nhảm một mình, tôi khuyên Bà niệm Phật là Bà nghe theo thực hành liền. Có mấy lần Bà nằm nhìn lên mái nhà nói: "Mớ cá đó 15 đồng bán không?", "Ôi! Con rắn to quá!". Tôi chỉ biết khuyên Bà niệm Phật, Bà làm theo là hết và nằm yên. Vào tối 16 tháng 11 âm lịch, tôi và cả nhà thấy Bà khỏe hẳn như không bệnh chi cả, chứng kiến Bà ngồi chia của cho các con cháu ở gần: "Vải nầy cho con ... (tên gì đó), áo quần và tiền nầy cho vợ chồng thằng ... (tên gì đó)" v.v... . Chúng tôi cứ tưởng Bà sẽ khỏe sống thêm. Nhưng vào lúc 3 giờ 30 thuộc ngày 17 tháng 11 âm lịch, lúc tôi đang ngủ ngon, ông Thiện Hạp tới đánh thức tôi dậy nói: "Thầy ơi, giờ sao thấy Mẹ tôi mệt lắm, xin Thầy dậy tụng Kinh cho Mẹ tôi". Nghe thế, tôi lật đật dậy lo rửa mặt súc miệng rồi đốt hương đèn tụng Kinh liền. Tôi tán, tụng Chú Đại Bi rồi tụng Kinh A Di Đà, niệm Phật, hồi hướng... Hồi đó tôi đang sức trai rất khỏe, tụng chậm rãi rang rảng, chủ ý cho Bà nghe rõ. Tụng gần xong, tới "Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não" v.v... thì nghe mấy người con nói: "Mẹ khỏe lại rồi!". Tôi thầm nghĩ: "Mình tụng là để cho Bà nghe rõ mà vãng sanh, sao Bà lại khỏe trở lại?". Tụng hồi hướng, phục nguyện xong thời Kinh đó, đang mặc y hậu tôi liền bước qua thăm Bà (nằm một bên của ngôi nhà ấy). Thấy tôi qua thăm, Bà ngồi dậy xây mặt về phía tôi (đang đứng gần) chấp tay nói với tôi: "Xin cám ơn Thầy", rồi Bà xá (vái) 3 xá với niềm thành kính, lặng lẽ nằm xuống chết, chẳng thể hiện một chút đau khổ nào. Lúc đó tôi biểu ông Hạp và mọi người trong nhà niệm Phật tiếp trợ cho Bà, mọi người đều thành tín niệm theo tôi. Lúc Bà xá tôi xong nằm xuống chết, thì ông Hạp nhìn đồng hồ đúng 5 giờ sáng (bằng bây giờ 4 giờ sáng), giờ mà các chùa đang làm lễ vía Đức Phật A Di Đà. Thật là phước báo vô biên cho bà Phan Thị Nguyên, pháp danh Nguyên Thanh, chuyển nghiệp rõ ràng nhờ tụng Kinh trì Chú bái sám của một ông Thầy còn nhỏ mới thọ giới và nhờ thiện căn, niềm tin kiên cố của Bà. Lúc đó tôi chưa hiểu gì về giáo lý cao siêu của Phật dạy cả, chỉ bằng niềm tin và tụng niệm bái sám cho Bà bằng tâm thành kính thanh tịnh thôi. Bà ấy có 4 người con trai, kể từ người con đầu trở xuống (tôi nhớ theo đọc sớ): Nguyễn Thiện Hạp, Nguyễn Thiện Toại, Nguyễn Thiện Du, Nguyễn Thiện Giả. Ông Nguyễn Thiện Hạp nay đã 88 tuổi (Ất Mẹo), ở tại số nhà 61 Hoàng Văn Thụ, phường 15, quận Phú Nhuận. Giả sử có ai không tin việc trên, thì hỏi trực tiếp ông Hạp. Ông ấy không đi chùa, nhưng rất chơn chất và rất kính mến tôi. Mới năm ngoái tôi tới thăm, ông nói: "Lúc tôi chết Thầy nhớ tới cầu nguyện cho tôi nghe". Bà Hạp cũng vậy, nay đã 83 tuổi (Canh Thân), lúc còn khỏe Bà đi chùa nhiều. Giờ đã già yếu, bệnh nhức nhiều, nhưng mỗi lúc tôi tới thăm Bà đều cúng dường tiền, dầu gió tốt, v.v... Hai người con trai giữa của bà Nguyên Thanh tôi không đủ duyên gặp thân (nghe đâu nay đã qua đời cả rồi). Còn ông Nguyễn Thiện Giả, pháp danh Minh Độ thì rất kính mến tôi, nay đã 73 tuổi và đã tin Phật tu niệm, đọc nhiều kinh sách Phật, nghiên cứu Kinh Lăng Nghiêm, tập Thiền đã gần 30 năm qua, nay lo trì Chú, niệm Phật, và nhờ đó mà giải bệnh ngặt nghèo, hiện ở tại Úc. Các con ông Giả cũng tin tưởng Tam Bảo, phụng sự Phật pháp (dù nghèo). Đặc biệt gia đình vợ chồng con cái ông Giả không bao giờ nói nhau một tiếng nặng lời, luôn luôn nhỏ nhẹ ngọt ngào. Các con Ông rất quý mến tôi, nhất là hai vợ chồng Minh (con rể) và Thanh Nhu (con gái). Cho thấy ai có Tu đều có Phước. Kể từ ngày khai tụng Kinh cho đến ngày đưa đám, tôi ở nhà ấy 11 ngày đêm. Đó là cái đám mệt nhất của đời tôi. Đám xong về chùa độ một tuần thì bị bệnh phải vào bệnh viện Trung Ương Huế nằm (chẳng nhớ mấy tuần), sốt nặng liên miên, các bác sĩ Mỹ lúc đó khám tưởng tôi bị bệnh lao, cho thuốc trị lao, nhưng lạ thay tôi cứ nhận thuốc phát mà không tin là uống sẽ lành bệnh, nên cứ nhét dưới gối mà không uống. Cứ ngày nầy qua ngày khác như vậy, sốt cứ tăng lên, một hôm họ cho chuyền hai chai nước biển, tôi thấy người khỏe hẳn lại, nhưng vài ngày là sốt trở lại như cũ, tôi cứ xin mấy cô y tá chuyền cho nước biển mà chẳng ai cho. Một hôm độ 7 giờ 30 tối, tôi thấy bất ổn, nghĩ rằng chắc mình phải chết thôi, tôi lấy radio và lột đồng hồ đeo tay cho một cậu bệnh nhơn nằm bên cạnh (chẳng biết cậu ta bệnh gì mà khỏe hơn tôi nhiều, vì cậu ấy thường hầu hạ và giúp đỡ tôi trong những lúc tôi nằm bệnh tại đó), rồi nằm ngửa chấp tay thành kính niệm Phật A Di Đà rất nhiều biến, tiếp niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, v.v... tụng hồi hướng, nguyện tiêu tam chướng, nguyện sanh Tây Phương... xong là nằm lặng lẽ chờ chết. Và đúng là chết thật, lúc đó chẳng ai biết. Bấy giờ tôi thấy sáng rực và khoái lạc vô cùng, không còn thấy biết cảnh vật nào, chẳng còn một tí đau khổ nào, mắt nhắm mà thấy sáng rực và khoái lạc tinh thần thôi. Chẳng biết trải qua mấy tiếng đồng hồ như vậy (có lẽ vài tiếng), sau đó thì sống lại: thấy bức tường, đèn điện của bệnh viện sáng lờ mờ, v.v... và hiện tượng khổ trở lại, biết mình đã chết trong khoái lạc, giờ sống lại thì thấy bệnh hành khổ đau, cảm thấy tiếc vô cùng, như mất một cái gì vô giá không tìm lại được, tôi nghĩ: "Sao không chết luôn mà phải sống lại thế nầy". Tôi kêu cậu bệnh nhơn giường bên cạnh kể cho cậu nghe. Cậu thấy tôi sống lại nên trả radio và đồng hồ lại. Ngày hôm sau, bác sĩ tới khám lại, thì ra tôi bị bệnh thương hàn chứ không phải bệnh lao, thế là họ cho chuyền nước biển và uống thuốc thương hàn, lần nầy tôi uống hết không bỏ một viên, ít bữa sau xuất viện tốt. Trận bệnh nầy may có nhờ Mẹ Thầy Nguyên Kim (Thầy Lê Ngân) ở gần sân vận động Huế phát tâm lo lắng, bảo mấy người con Bà (em Thầy Nguyên Kim) bới xách cháo cho tôi mỗi ngày ba bữa. Cháo Bà nấu rất ngon, và mấy người con ấy đem áo quần tôi thay về giặt mỗi ngày. Bà cũng là đệ tử Thầy tôi. Tôi nghĩ, nếu Bà thích danh tướng thì Bà đi cúng lo cho chư tôn Hòa Thượng, chư Thượng Tọa, các vị trú trì ở Huế thiếu gì, mà phải cực nhọc săn sóc lo cho một ông Thầy nhỏ mới thọ giới vô danh tiểu tốt. Có lẽ Bà thấy và tin tưởng ở tôi là người tu hành tốt. Bà là người trì tụng Kinh Pháp Hoa hằng ngày, lúc về già thì Bà thuộc làu Kinh. Trong khoảng mười năm lại đây tôi mới báo được ân Bà phần nào. Bà mới qua đời hôm 29-5 âm lịch Nhâm Ngọ vừa rồi. Tôi nghĩ Bà là người thực sự sống với tâm đức. Trước đó tôi cũng chẳng có quan hệ gì với Bà, tôi chẳng biết nhà Bà ở đâu, chỉ thấy Bà tỏ vẻ tin tưởng quý mến tôi, và tới chùa gặp thỉnh thoảng cho tiền thôi. Cứ trong mỗi mùa An Cư, Bà qua chùa tụng Kinh ngày hai buổi như năm sáu chục bà khác, dưới sự hướng dẫn của Thầy tôi, tôi chỉ là một ông chú lo việc chùa, hầu Phật và hầu Thầy tốt, cũng nhiều lần ngồi đánh mõ. Thầy tôi chủ lễ ngồi bên chuông hướng dẫn họ tụng Kinh bái sám. Thầy tôi hơi rất tốt, tôi không kham theo liên tục, vì Ngài hướng dẫn họ tụng mỗi thời Kinh hết trọn một bộ Địa Tạng, rồi Thủy Sám, Lương Hoàng, Pháp Hoa, vạn Phật v.v... (đều bằng chữ Hán). Nhưng Thầy tôi chẳng bắt tôi tụng theo ông và Đạo tràng, Thầy tôi để quyền tôi. Hơi Thầy tôi tụng nghe rang rảng không cần máy. Có lẽ nhờ công đức đó mà những ngày Thầy tôi sắp Tịch như đã dự biết trước, rất an nhiên tự tại vui vẻ, nhờ một ông bạn thân chở đi thăm một số chùa và tự lo sẵn hòm trước, leo lên chùa Thanh Cao để họa mấy chữ Phạn về dán quanh hòm và nói: "Thiên hạ ai cũng sợ chết ngày xấu, tu hành sợ chi, để ta lựa ngày xấu đi". Có người mắc nợ gặp trả tiền, Thầy tôi nói: "Thôi cho đó, lấy làm chi nữa, không nhận nữa đâu". Mấy ông đang xây tháp thì Thầy tôi ra coi và nói: "Mấy vị làm mau ta xuống đó nằm cho mát, ở trên nầy nóng lắm". Tối 19 tháng 8 âm lịch Thầy tôi còn ngồi chơi với Hòa Thượng Chùa Giác Lâm, khuya ngày 20 (ngày 20 chưa sáng) Thầy tôi thở mệt một hồi rồi Tịch, chẳng tốn một viên thuốc, chẳng bệnh hoạn phiền ai cả. Lúc đó (vào năm 1983) tôi đang tu học tại Cao Đẳng Phật Học Viện Huệ Nghiêm, chỉ kịp để về trước giờ nhập Tháp Ngài một đêm. Quý Ngài trong Giáo Hội Huế lo hết, lo viết sẵn cả lời cảm tạ cho tôi đọc, lúc đưa nhục thân Thầy tôi nhập tháp xong. Tôi đoán Hòa Thượng Thích Chánh Trực và Thượng Tọa Thích Đức Thanh cùng hội ý viết bài đó. Thầy Toàn Lạc và Thầy Toàn Thiệt thì chỉ biết tuân theo quý Ngài dạy. Ngài Hòa Thượng Thích Trí Thủ ra đưa đám Thầy tôi, Ngài cảm động khóc, vì hai Ngài là anh em cô cậu ruột, đối với nhau hơn anh em ruột ở đời (Thầy tôi vai anh). Ngài không ngờ Thầy tôi lại Tịch sớm và nhanh dễ dàng như vậy, mới tròn 70 tuổi còn khỏe mà! Có lẽ Ngài thấy Thầy tôi là một nhà tu hành coi danh lợi như rác, không vướng dính mà Ngài nể, vì mất một bậc đáng quý, hơn là khóc vì tình anh em. Thật ân tình của các nhà tu rất sâu đậm, người thường khó mà hiểu. Nhưng buồn thay, chỉ 6 tháng sau thì Ngài Hòa Thượng Thích Trí Thủ cũng Tịch hết sức bất ngờ và mau vậy! Hòa Thượng Thích Trí Thủ Tịch chưa bao lâu, một hôm tôi nằm chiêm bao thấy Thầy tôi tới Phật Học Viện Huệ Nghiêm, tôi xuống gặp Ngài dưới sân, Ngài không hỏi thăm tôi và chẳng lên phòng, chỉ hỏi: "Ôn Hòa Thượng Trí Thủ đâu rồi?". Tôi thưa: "Bạch Thầy, ôn Tịch (chết) rồi". Thầy tôi nói: "Chết đó chỉ là chết cái thân giả thôi!". Lúc đó trong trí tôi thấy có một cái thân của Hòa Thượng nằm chết đó, tôi nghĩ và thấy tuồng như ai nắn một cái thân giả của Hòa Thượng nằm đó! Rồi một lát sau tôi thưa với Thầy tôi: "Bạch Thầy, rứa thì Ôn đi qua bên kia rồi!". Thầy tôi liền đi, chẳng dặn gì tôi cả. Do đó chúng tôi nghiệm biết, các Ngài thấy sanh tử chỉ là trò huyễn (ảo) mộng, chẳng bận tâm chi, chỉ lo tu Bồ Tát hạnh tiến đến Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Phần tôi, cũng nghĩ rằng, nhờ lúc mới vô chùa tu đã đủ niềm tin siêng tụng Kinh trì chú: Ngoài hai thời Công Phu sớm chiều, còn tụng Kinh Tam Bảo (trong đó có Kinh Thọ Mạng tụng gần như thuộc làu), Kinh Địa Tạng, Kinh Thủy Sám, lạy Hồng Danh Phật nhiều, nhờ đó mà không mang phải một bệnh đáng kể nào. Từ lần nằm bệnh viện Trung Ương Huế năm 1965 đó đến nay rất hiếm khi đi khám bác sĩ cho đến sau nầy, mỗi lúc thấy mình có tội lỗi gì thì lo tụng Kinh trì chú, bái sám giải ngay. Như lạy vạn Phật (bằng chữ Hán) trì chú Đại Bi, tụng Kinh Dược Sư, Kinh Phổ Môn, Kinh Lương Hoàng Sám. Và tôi tin tưởng rằng thành tâm tụng Kinh, trì chú, thành tâm lạy sám thì tội nghiệp gì cũng tiêu diệt như nhiều Kinh dạy. Từ 1975 đến nay, chỉ có một lần cảm ho nặng (vì lo đám tang tụng niệm nhiều), phải khám bác sĩ, và hai lần vào bệnh viện xét nghiệm thử có bệnh gì không, bác sĩ cho thuốc bổ uống một tháng thôi, thì biết nhờ Kinh Chú mà giải nghiệp trừ chướng. Còn lắm chuyện linh nghiệm khác, do tụng Kinh Phổ Môn và niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, niệm Bồ Tát Địa Tạng, xin khỏi kể thêm, mệt quý độc giả. Nhân dịp Ngài Hải Nhân giải thích chữ Kinh và những kết quả của người y Kinh tu hành, mà tôi tạm kể một vài chuyện của đời mình liên quan đến tụng Kinh, trì Chú, niệm Phật, niệm Bồ Tát linh nghiệm thấy rõ. Xin quý độc giả thứ lỗi, đừng trách: Ông Thầy tu mà chưa vô ngã. Bởi nếu đã thật sự VÔ NGÃ thì chẳng cần sám hối, tụng Kinh, trì chú, niệm Phật. Vì còn chấp ngã, còn thấy có ngã có nghiệp báo, có sanh tử luân hồi khổ đau mà phải sám hối, niệm Phật, v.v... Đã Vô Ngã thì tội lỗi, nghiệp chướng, sanh tử khổ đau nhân ngã bỉ thử, v.v... đều vô (không). Ở địa ngục cũng như ở thiên đường, Niết Bàn ngay giữa sanh tử khổ đau. Và không thấy có sanh tử Niết Bàn, không thấy có khổ đau an lạc khác nhau. Bằng Quán Trí Bát Nhã triệt tiêu hết mọi pháp duyên sanh như huyễn đó. Quán Trí là chày Kim Cang đánh tan hết mọi thứ đó. Quán Trí là thượng chiêu đánh gục mọi chấp trước của mê niệm, của vô minh phiền não. Bấy giờ thấy ta với chư Phật Bồ Tát v.v... không khác nhau, tất cả đều ở trong biển Giác vô biên. Tức đã bằng Tam Muội ấn đốt tiêu tất cả hạt nhân, chủng tử khổ đau, tâm niệm tham lạc, mà thường an lạc, tự tại, không dụng tâm, không khởi niệm theo duyên, theo trần cảnh. Tức đã tới Vô Tu Vô Chứng. Trái lại, nếu còn thấy khổ đau, còn sợ nghiệp báo, còn vì chấp ngã mà tạo ác nghiệp, và không đủ Quán Trí Bát Nhã thì nên làm từ đầu: Lạy Phật Bồ Tát sám hối, trì Chú, tụng Kinh, niệm Phật và tu tạo mọi Phước lành mà giải, mà xả ác báo để được tiến tới cảnh giới an lạc, hay đủ Quán Trí Tịnh Tâm lên bờ Giác. Kính kể. THÍCH TOÀN CHÂU Ngày 30-7-2002 (21-6-Nhâm Ngọ) Nguồn Tamphat.Org
Chỉ cần viết 6 chữ "NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT" vào phần nhận xét bên dưới bài giảng sau khi bạn xem thuyết pháp xong, dần tích lũy hằng ngày. Chúng tôi chúc bạn được nhiều may mắn & hạnh phúc.Nguồn thuyetphapmoi
Người xưa khuyên rằng, hành thiện sẽ tích được phúc báo. Nhưng trong cuộc sống, có rất nhiều việc mà chúng ta vô ý làm sẽ không những không tích được phúc báo mà còn khiến phúc báo bị hao tổn mất.Dưới đây là 6 hành vi khiến phúc báo của một người bị hao tổn nhanh nhất mà một vị hòa thượng khuyên bảo!
1. Thường xuyên sát sinhSát sinh là hành vi đứng đầu trong những hành vi làm hao tổn phúc báo nhanh nhất. Trong cuộc sống hàng ngày, sát sinh là việc khó “đoạn tuyệt” được, nhưng nếu không nhất định phải sát sinh thì chúng ta hãy hạn chế sát sinh. Bởi vì sát sinh chính là cách làm hao tổn dần phúc báo của bản thân. Đến khi đã hưởng hết phúc báo từ đời trước thì chúng ta sẽ phải chịu nghiệp báo của sát sinh gây ra.2. Tức giận, oán giận, cáu kỉnhĐại sư Ấn Quang khuyên bảo: Người phụ nữ không hay tức giận thì con cháu sống thọ hơn. Phụ nữ thường xuyên tức giận cáu kỉnh, sinh con sẽ khó nuôi.Phát giận là điều cứu không được. Tức giận chính là “lửa thiêu rừng công đức.” Chỉ một cơn lửa giận có thể thiêu cháy hết cả phúc đức. Người xưa thường khuyên rằng: Oán giận một lần đối với một người bình thường sẽ làm tiêu tan phúc đức tích lũy trong 100 kiếp. Oán giận một lần đối với cha mẹ, người lớn tuổi, người đại đức, sẽ làm tiêu tan phúc đức tích lũy trong 1000 kiếp. Oán giận cha mẹ hậu quả rõ ràng nhất là “phúc mỏng mệnh nông”.3. Xung đột với cha mẹ, người bề trênChống đối, mâu thuẫn với cha mẹ là việc đứng đầu trong những việc làm “tổn phúc bại lộc.” Vô luận là cầu cái gì cũng đều không đạt được, ngàn vạn lần cầu cũng uổng công bởi vì tích phúc không có mà tổn phúc lại nhanh. Sự việc, nhân duyên, làm việc đều không thuận…Nếu như công việc không thuận lợi, cảm tình thống khổ lập tức hiếu thuận với cha mẹ, cha mẹ vui mừng thì hết thảy thiên nhân, quỷ thần đều sẽ đến bảo hộ. Người không chống đối, không có mâu thuẫn với cha mẹ thì công việc sẽ thuận lợi, có nhân duyên tốt đẹp. Nếu như từ nhỏ đã không có mâu thuẫn gì với cha mẹ thì cho dù xuất thân trong gia đình nghèo khó sau này lớn nên cũng có thể trờ thành người có sự nghiệp.Người dùng tiền tài nuôi dưỡng cha mẹ, tương lai tất sẽ giàu có, khá giả. Hiếu thuận nhưng không dùng vật phẩm tiền tài nuôi dưỡng cha mẹ thì cho dù làm đại quan cũng sẽ thiếu hụt tài phú.Nói xấu xuyên tạc bậc thánh hiền, đại đức, một câu làm tổn hại 100 thiện, làm hỏng hết huyết mạch phúc báo của gia đình.4. Oán trời trách người, bàn lộng thị phi, ghen ghét người khácNhững điều này làm tổn hại đức khí và hòa khí của trời đất, tài vận sẽ bị hủy diệt. Nếu như không có của cải của tổ tiên che chở thì nhất định sẽ bần cùng, làm việc không thuận. Oán trời trách người một lần sẽ làm tiêu tan ba thiện. Đại sư Ấn Quang nói:“Người gặp nghịch cảnh mà không oán trời trách người thì nhất định sẽ có hậu phúc và con cháu thịnh vượng.”Ghen ghét châm chọc, nói xấu người khác cái gì thì tương lai cũng sẽ phải chịu như thế.5. Khoe khoang, khoa trương bản thânKhoe khoang bản thân, ở đâu cũng đề cao mình, cũng tự mãn sẽ khiến quỷ thần ghen ghét mà phá bỏ. Cho nên, khoe khoang cái gì thì tương lai sẽ bị mất đi thứ đó.6. Nói điều xấu, điều không đúng về người khácNói những điều xấu về người khác là làm tổn thương đến hòa khí giữa trời và đất mà chiêu mời tai họa mà quỷ thần giáng xuống. Hơn nữa, dùng một chút những lời nói đồn đại không đúng sự thật để khoa trương bản thân khiến cho người bị nói sẽ tức giận khó chịu thì sao có thể sống bình an đây?Trời đất đã sinh ra dược thảo khiến vạn vật thoải mái, cũng sinh ra độc thảo đầu độc vạn vật. Trời đất dưỡng dục người lương thiện, quân tử cũng dưỡng dục tiểu nhân. Mặt trăng mặt trời chưa bao giờ chỉ soi sáng cho người lương thiện mà không soi sáng cho người ác. Nước biển chưa bao giờ chỉ thu nạp dòng nước tinh khiết, cự tuyệt dòng nước ô nhiễm. Cho dù chúng ta có bao nhiêu sai lầm khuyết điểm thì trời đất, mặt trăng mặt trời cũng chưa bao giờ yêu cầu chúng ta điều gì. Cho nên, chúng ta cũng không thể yêu cầu người khác, xa lánh người thương tổn đến mình mà cho đó là tiểu nhân, ác nhân. Hãy mở rộng lòng mình mà bao dung hết thảy, chúng ta sẽ được nhiều hơn!Người xưa có câu: “Thái sơn bất từ thổ nhưỡng, hà hải bất trạch tế lưu” là có ý khuyên rằng: Làm người phải tiếp nhận được hết thảy mọi người, kể cả người không cùng suy nghĩ, quan niệm và hành vi thì mới có thể thành tựu chính bản thân mình.(St)NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬTNguồn Nguyễn Hữu PhúCộng đồng Chơn Như Vô Lượng - Mạng Facebook
(PGVN)
Bài viết này sẽ trình bày rằng Thiền Tông là pháp môn nguyên thủy và cốt tủy do đức Phật dạy. Nói nguyên thủy, vì Thiền Tông chính từ lời đức Phật dạy. Nói cốt tủy, vì nhiều cách an tâm trong Thiền Tông là từ các kinh, khi chư tăng cao niên xin dạy pháp ngắn gọn để sẽ lui về một góc rừng ngồi trọn đời cho tới khi giải thoát. Bài viết này sẽ sắp xếp các lý luận sao cho thực dụng, có lợi cho tất cả những người quan tâm và muốn bước vào Thiền Tông. Tính thực dụng trong cách an tâm sẽ trình bày cụ thể, trong mức có thể được. Bản thân người viết tự xét sở học bất toàn, nên sẽ tránh ý riêng tối đa, để chủ yếu dựa vào các kinh Pali phổ biến, có sẵn với các bản Anh văn trên mạng.Hy hữu trong đời là gặp được, tin được và tu học được Phật pháp. Trước tiên, xin ghi lời ngợi ca Phật pháp bằng cách ghi lại Kinh Pháp Cú kệ 178: “Chỉ mới đạt sơ quả Tu Đà Hoàn, đã thấy tốt lành hơn là làm chủ trọn thế gian nay, tốt lành hơn là vào sống cõi chư thiên, tốt lành hơn là lên ngôi vua tối thượng của toàn vũ trụ…”Vâng, chỉ mới sơ quả thôi, đã có giá trị tuyệt vời như thế. Cuộc đời này quá ngắn, gặp được Phật pháp là cơ duyên tuyệt diệu, hy hữu của trăm kiếp, nghìn đời. Căn bản Phật pháp có thể gom về ba chữ là tu giới định huệ, để lìa tham sân si; tất cả các pháp không ngoài xả ly tham sân si. Thực sự Kinh Phật dạy, chỉ cần lìa riêng một tâm sân thôi, cũng đủ đắc tam quả A Na Hàm. Trong muôn ngàn lời dạy từ Kinh Phật, tuyệt vời nhất là khi học được và tu được pháp môn ngắn gọn do chính đức Phật tuyên thuyết. Vì rất nhiều người trong chúng ta không còn nhiều thì giờ nữa trong đời này. Tại sao nói rằng đức Phật đã dạy pháp Thấy Tánh? Đơn giản, đọc lại Kinh Pali, có thể thấy rằng tới 90% kinh là dạy về thấy, nghe, hay, biết… dạy về sắc, thọ, tưởng, hành, thức… dạy thấy tâm nơi không một pháp nào dính vào, nhìn thấy tâm nơi chỗ rỗng rang, nhìn thấy tâm nơi khởi lên và biến diệt, nhìn thấy tâm vô tác, vô tướng… Ngắn gọn, đây là dạy Thấy Tánh.Đúng là đức Phật có dạy ngồi thở, có dạy về một số pháp xử thế trong xã hội. Nhưng phần lớn, hầu hết, đức Phật nói về bản tánh các pháp là vô thường, là bất như ý, là không tự ngã, là rỗng rang, là chiếu sáng của tâm, là hư ảo của sắc thọ tưởng hành thức, và tương tự. Thấy được tánh các pháp như thế, là giải thoát.
Thiền Tông chỉ dạy pháp Thấy Tánh. Dạy ngồi, dạy hít thở chỉ là phụ. Khi đã Thấy Tánh rồi, đã thấy là rỗng rang vô ngã, đã thấy muôn pháp tương tức nhân duyên, tức nhiên là trong tâm sẵn đủ Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo. Lúc đó, cần ngồi làm chi, không cần tu một pháp nào hết nhưng muôn pháp sẽ trọn đủ. Bởi vì, tất cả các pháp sẽ hoàn tất ngay trong một niệm. Khi nhìn thấy vừa khởi niệm (bất kể là niệm tham sân si hay không, bất kể niệm lành hay dữ), người tu thấy ngay bản tánh của niệm là rỗng rang, là vô tự tánh, tức khắc niệm này sẽ biến vào cõi lặng lẽ của tâm – trong mỗi niệm dưới mắt người thấy tánh, niệm này tức khắc trải qua sanh lão bệnh tử để trở về biển tâm vốn rỗng rang, vô tướng, vô tác … Cho nên, gọi rằng không cần tu. Và thấy nghe hay biết như trong pháp Như, trước mắt thấy tự tâm là gương sáng rỗng rang bất động, bất kể khi cảnh mưa gió bão tuyết hiện ra trước gương tâm nhưng tính rỗng sáng vẫn bất động, vẫn lặng lẽ. Tuy rằng tu pháp như như bất động, nhưng vẫn viết sách, vẫn làm thơ, vẫn vào đời thuận theo cơ duyên hoằng pháp…Thiền Tông phần lớn dựa vào lời dạy ngắn gọn, thường là các pháp đặc biệt do đức Phật tuyên thuyết, khi có một vị tăng cao niên xin lời ngắn gọn để nghe xong, sẽ lui về góc rừng ngồi tu tới trọn đời. Lời dạy ngắn gọn thường được nhắc tơi là Kinh Bahiya, khi một du sĩ ngoại đạo nghe xong, vài khoảnh khắc sau là thành A La Hán, trong đó đức Phật dạy rằng hãy tập là trong cái thấy chỉ là cái được thấy, trong cái nghe chỉ là cái được nghe… (1) Lời dạy ngắn gọn tương tự là Kinh Malunkyaputta, khi Tỳ kheo Malunkyaputta đã cao niên, tự biết không còn ở lâu trên cõi đời này, cho nên mới hỏi Đức Phật, xin dạy pháp ngắn gọn, để lui về tu khẩn cấp.(2)Lời dạy ngắn gọn khác được dạy là Kinh Khemaka, dạy để tâm vô sở trụ (không dính tâm vào đâu cả), phương pháp là hãy chăm chú nhìn vào chỗ tập khởi và biến diệt của tâm. Nghe xong, 61 tỳ kheo đắc quả A La Hán.(3)Lời dạy ngắn gọn khác là ở Kinh Kalaka, dạy chớ dựng lập thấy biết, được giảng lại chi tiết ở Kinh Lăng Nghiêm, và đức Phật nói rằng đó là dạy về pháp "Như" tối thượng, không pháp nào cao hơn. (4)Lời dạy ngắn gọn khác là ở Kinh Cetana, dạy chớ dựng lập ý niệm. (5)Lời dạy ngắn gọn khác là ở Kinh SA 17, dạy bứng gốc và buông bỏ sắc thọ tưởng hành thức, nghĩa là bứng gốc và buông bỏ mọi hiện tướng của thân tâm. (6) Các pháp ghi trên thực ra là rất gần nhau, là nhiều cách tiếp cận khác để tâm rỗng rang, bình lặng, mà không cần tập định, vì đây là tự tánh định. Theo các lời dạy này, hễ khởi tâm tập định là dính vào cõi thấy nghe hay biết của sắc thọ tưởng hành thức, nghĩa là dính vào tập quán hành nghiệp muôn đời.Các lời dạy ngắn gọn nêu trên Bồ Đề Đạt Ma truyền sang Trung Hoa, rồi do Ngài Huệ Năng dạy trong Kinh Pháp Bảo Đàn, dùng làm các pháp thiền cốt tủy cho Tổ Sư Thiền. Vào cuối thế kỷ 20 và đầu 21, một trong những người nối pháp Thiền Tông là cố Thiền Sư Duy Lực, một vị sư từng được GHPGVN thỉnh giảng trong một số khóa tu ngắn hạn ở các tỉnh Miền Trung và Miền Nam cuối thập niên 1990s. Nhiều thế kỷ trước, tại Việt Nam, các pháp ngắn gọn này được Phật Hoàng Trần Nhân Tông dùng làm pháp cốt tủy cho Thiền Trúc Lâm, một thiền phái một thời bặt dấu và gần đây được hồi phục nhờ công lớn của Thiền sư Thích Thanh Từ.Câu hỏi là, pháp chánh niệm (mindfulness) hiện nay dạy phổ biến ở Hoa Kỳ và Châu Âu, có liên hệ gì tới Thiền Tông? Xin trả lời, đây là một công cụ để an tâm. Nếu không Thấy Tánh, có thể người tu sẽ bị dẫn đi lầm lạc, hoặc chệch sang các pháp thế tục, hoặc chệch sang ngoại đạo.Một điểm để suy nghĩ rằng, Phật giáo khi sang Hoa Kỳ và Châu Âu, công cụ chánh niệm (mindfulness) được rút ra để phục vụ cho nhiều mục đích trần gian. Hiệu quả đa dạng của chánh niệm được dùng trong bệnh viện để chữa bệnh, dùng trong giới sinh viên để tập trung tư tưởng và tăng trí nhớ, dùng trong quân sự đê tăng phản ứng nhanh nhẹn và tăng hiệu năng tác chiến, dùng trong nhà thờ để “tĩnh tâm và lắng nghe Thượng Đế” và cũng được một số bác sĩ sử dụng mindfulness để hướng dẫn tăng các khoái lạc thân xác. Thậm chí, một số Phật tử tập thiền có thể đi lạc sang ngoại đạo, khi thấy cơ thể nhẹ nhàng và đạt vài công năng đặc dị, và rồi chạy theo những người tự xưng thế này, thế kia.Đọc Kinh Phật, chúng ta sẽ thấy rằng, trong rất nhiều kinh, khi Đức Phật nói xong, là có những vị sư (và cả cư sĩ, du sĩ) đắc ngay quả A La Hán. Tại sao như thế? Có phải vì nghiệp có thể tan biến chỉ trong khoảnh khắc? Hay thực sự, không hề có gì gọi là nghiệp cả, mà chỉ vì khi chúng ta mê thì nghiệp níu kéo, khi tỉnh thì nghiệp nhẹ thênh thang? Chỉ vì nghiệp tự thân cũng là vô ngã, cũng là do nhân duyên. Nếu nghiệp có thực thể, chúng ta trả nghiệp hoài cũng không xong. Hãy nghĩ rằng, chúng ta như trên sân khấu các vở kịch, đóng đủ thứ vai trò, khi làm vua, lúc làm dân, cũng với đủ thứ vui buồn giận dữ, nhưng khi thấy được tánh của các vở kịch chỉ là hư giả, mới tỉnh ra rằng đây là vở kịch; lúc đó sẽ không có cảm xúc nào trong kịch lôi kéo mình nổi, và khi bước ra sân khấu là vô lượng nghiệp của trăm ngàn vai kịch cũng sẽ khoảnh khắc tan biến. Đó là lý do, một khi Thấy Tánh, vô lượng nghiệp dữ tan biến.Pháp Thấy Tánh thực ra mở Kinh Pháp Cú là thấy rồi.Trong Kinh Pháp Cú, Kệ 170, kể về một lời dạy ngắn gọn của Đức Phật. Kinh này ghi rằng, có 500 nhà sư ban đầu nhận đề mục thiền định từ Đức Phật, nhưng tập hoài vẫn không khởi được tuệ giác. Khi Đức Phật nói lên Kệ 170, và gần như tức khắc, 500 vị sư đắc quả A La Hán. Tại sao nhanh như thế? Có phải nghiệp tan biến dưới đôi mắt tuệ? Có phải nghiệp vô lượng kiếp chỉ là vô lượng vai trò với tham sân si trên sân khấu kịch, và khi tỉnh ra rằng đây là kịch, tất cả tham sân si trong các vai kia sẽ mất tác dụng?Nơi đây, xin trích đăng Tích Truyện Pháp Cú, bản dịch của Thiền Viện Viên Chiếu, về Kệ 170, trích:"3. Năm Trăm Tỳ Kheo Chứng QuảHãy nhìn như bọt nước ...Câu chuyện này xảy ra khi đức Bổn sư ở tại Kỳ Viên với năm trăm Tỳ-kheo chứng quả.Có năm trăm Tỳ-kheo nhận đề mục thiền định từ đức Bổn Sư, trở về rừng và nỗ lực thiền định. Nhưng mặc dù gắng sức chiến đấu hết mình, họ không thể nào phát triển tuệ giác.Các thầy nghĩ thầm: "Chúng ta sẽ đổi đề mục khác thích hợp với chúng ta hơn". Các thầy lại chỗ Phật, trên đường đi các thầy thấy một ảo ảnh, tập trung mọi ý niệm về ảo ảnh ấy, các thầy khai mở tuệ giác. Khi bước vào sân tu viện, trời đổ mưa, các thầy đứng đấy nhìn những bọt nước nổi bập bềnh và tan nhanh chóng. Một tư tưởng trỗi dậy: "Tự ngã của chúng ta như bọt nước nổi tan". Lập tức các thầy tập trung tư tưởng vào ý nghĩ này. Đức Bổn Sư đang ngồi trong hương thất, bèn hóa thân đến trước các thầy, nói kệ: (170) Hãy nhìn như bọt nước, Hãy nhìn như cảnh huyễn! Quán nhìn đời như vậy, Thần chết không bắt gặp.Nghe xong, các thầy chứng quả A-la-hán ngay tại chỗ." (ngưng trích)Xin xem bản Việt dịch và Anh dịch ở link (7).Nhìn như bọt nước, nhìn như cảnh huyễn? Đó là pháp Thấy Tánh. Đức Phật bảo phải nhìn, không bảo phải ngồi rèn luyện công phu. Ai thấy tất cả các pháp cõi này như thế trọn ngày, tự nhiên, là không còn pháp nào dình vào tâm nữa, và tức khắc giải thoát vì không gì buộc nữa. Xin chú ý rằng, pháp mindfulness dùng cho các thế gian trên báo Mỹ hầu hết không hề nói gì về nhìn các pháp như huyễn, mà đều dùng như công cụ để thành đạt và vun bồi cho cái tự ngã để thành công hơn trong cõi dục này. Chư Tổ đưa pháp ngắn gọn trong Kệ 170 vào Kinh Kim Cang, được Thiền Sư Thích Thanh Từ dịch như sau, trích:“Này Tu-bồ-đề, nếu có người đem bảy báu bằng thế giới trải qua số kiếp vô lượng a-tăng-kỳ để bố thí. Nếu có người thiện nam, người thiện nữ phát tâm bồ-đề đem kinh này cho đến bốn câu kệ v.v. thọ trì, đọc tụng, vì người diễn nói thì phước của người này còn hơn phước của người kia. Thế nào là vì người diễn nói? Chẳng thủ nơi tướng, như như bất động. Vì cớ sao?Tất cả pháp hữu vi, Như mộng, huyễn, bọt, bóng, Như sương cũng như điện, Nên khởi quán như thế…” (ngưng trích) (8)Chỉ thấy các pháp là huyễn, có nghĩa là thấy ngay hiện cảnh sắc thọ tưởng hành thức trước mắt cần quăng bỏ, tức khắc thoát sinh tử luân hồi… Pháp môn đó, không có thứ lớp, nên còn gọi là Vô Môn, tức Không Cửa Vào, còn gọi là Tâm Tông. Và vì quăng bỏ sắc thọ tưởng hành thức, và vì đưa vô lượng chúng sinh (hiện tướng của sắc thọ tưởng hành thức) vào Niết Bàn, nên còn gọi Thiền Tông là 84 ngàn pháp môn, khi 84 ngàn phiền não khi được nhìn tới liền tức khắc là 84 ngàn cửa vào đạo. Đó là, phiền não tức bồ đề.Lời dạy trong Pháp Cú Kệ 170 còn đưa vào Kinh Viên Giác, được chư Tổ giảng rằng “tri huyễn tức ly” là pháp không cần tu, không cần ngồi – thấy huyễn, là không còn dính gì tới cõi sinh tử nữa, là nghiệp vô lượng kiếp sẽ không kéo nổi chúng ta nữa. Bản dịch của Thiền sư Duy Lực, trích:“Thiện nam tử! Tất cả Bồ Tát và chúng sanh đời mạt pháp nên xa lìa tất cả huyễn hoá, những cảnh giới hư vọng do vọng tâm cố chấp mà sanh. Nay xa lìa vọng tâm, cái tâm năng lìa cũng là huyễn, cũng phải xa lìa. Có sự xa lìa cũng là huyễn cũng phải xa lìa. Có sự xa lìa để lìa vẫn là huyễn, cũng phải lìa luôn, lìa rồi lại lìa nữa, đến chỗ chẳng có sở lìa mới dứt hẳn các huyễn. Ví như dùi cây lấy lửa, hai cây chà xát vào nhau, lửa ra thì cây cháy thành tro, khói diệt tro bay, đất chỗ nơi đốt vốn chẳng động; vậy dùng huyễn tu huyễn cũng như thế, các huyễn diệt hết nhưng chẳng phải đoạn diệt.Thiện nam tử! Biết huyễn tức là lìa, chẳng lập phương tiện; lìa huyễn tức là giác, cũng chẳng thứ lớp. Tất cả Bồ Tát và chúng sanh đời mạt pháp theo đó tu hành, như thế mới được lìa hẳn các huyễn. (hết trích) (9)Cả Kinh Kim Cang và Kinh Viên Giác đều là căn bản của Thiền Tông. Cảnh giác, tuy nói không cần tu, nhưng thực sự là tu suốt ngày, tu trong từng khoảnh khắc của tâm. Nhưng không quán gì hết, vì quán là rơi vào thứ lớp, rơi vào sinh diệt. Quán chỉ là một phương tiện của các pháp có tu, trong khi Thiền Tông là cái thấy nghe hay biết không qua mài giũa, vì là pháp vô sinh diệt. Ngắn gọn, Thiền Tông là bảo nhậm cái tâm xa lìa mọi sắc thọ tưởng hành thức. Để đối chiếu, thử nêu một thí dụ, trong nhà chùa có pháp gọi tên (labelling) bất kỳ hiện tướng nào của tâm thân, khi đi biết và gọi tên là đi, khi ngồi biết và gọi tên là ngồi, khi thấy tâm vui hay buồn thì nhận ra và gọi tên là tâm vui, buồn… Đó là một pháp an tâm tuyệt diệu. Tuy nhiên, Thiền Tông lại khác, vì không cần gọi tên bất kỳ pháp nào ra, vì là ngôn ngữ đạo đoạn (cắt đứt con đường ngôn ngữ), vì là đọc “kinh không chữ” và là cái thấy nghe hay biết trước khi ngôn ngữ hình thành. Thiền Tông là pháp môn khi tâm chưa khởi lên, là pháp môn của quăng bỏ sắc thọ tưởng hành thức. Rất nhiều người cũng từng có những kinh nghiệm thế này: khi bạn bước ra vườn và đột nhiên mưa rào đổ xuống, bạn thấy lạnh co ro… và nhận ra cái tâm thấy lạnh và co ro đó khi chưa có chữ nào hiện lên, lúc đó là tâm sơ nguyên – tâm này xa lìa thiện ác lành dữ, xa lìa mọi thứ lớp ba cõi sáu đường, và là một cõi gương sáng, rỗng rang, vô ngôn. Tương tự, khi một vị sư bị véo mũi, hay một vi sư bị cánh cửa kẹp vào chân đau điếng… chính ngay khi thân đau đó, khi chữ chưa hiện ra, đã thấy đó là tâm. Pháp môn này là thấy được tâm vô tâm, không trải qua chữ nào hết.Các pháp mindfulness được dạy ở Hoa Kỳ và Châu Âu là tập trung vào cái bây giờ - không nghĩ tới hôm qua, không nghĩ tới ngày mai, không nghĩ chuyện quá khứ, không vẽ vời chuyện tương lai. Đúng là Đức Phật có dạy như thế trong Trung Bộ kinh 131. Nhưng, khi dạy tới pháp “vô sở trụ” hay pháp “bứng gốc và buông bỏ sắc thọ tưởng hành thức” thì lấy đâu ra cái bây giờ để thân tâm này chăm sóc cái mindfulness, vì lúc đó cả ba thời – quá, hiện, vị lai – đều vào cõi vắng lặng rồi.Tới đây, chúng ta nên nhắc về trường họp Pháp Sư Đức Sơn (782-865) chuyên giảng Kim Kim Cang, không tin các sư dạy pháp thiền đốn ngộ, nên đã về phương Nam để tìm tranh luận. Khi tới Lễ Châu, gặp một bà già bán bánh rán, mới hỏi mua cho đỡ đói. Thấy sư gánh bộ Thanh Long Sớ Sao, bà già nói là sẽ hỏi một câu, nếu sư trả lời được thì sẽ được cúng bánh.Sư Đức Sơn đồng ý, bà liền hỏi: “Trong kinh Kim cương có nói ‘Tâm quá khứ bất khả đắc, tâm vị lai bất khả đắc, tâm hiện tại bất khả đắc.’ Vậy Thầy muốn điểm tâm nào?”Sư Đức Sơn lặng thinh, không đáp được. Bà già mới chỉ Sư đến tham vấn Thiền sư Long Đàm.Sư Đức Sơn về học với Ngài Long Đàm, nhiều năm chưa ngộ. Uyên bác như thế, tinh cần như thế… tại sao chưa ngộ? Một đêm, Đức Sơn hầu Long Đàm, nói khuya rồi, không thấy gì, Long Đàm thắp nến đưa, Đức Sơn tính nhận thì Long Đàm thổi tắt biến. Đức Sơn nói rằng từ đây không còn nghi ngờ lời dạy của Sư Long Đàm nữa.Đó là trong cái khoảng khắc của thấy bóng tối, rồi thấy đèn, rồi đèn tắt lại thấy bóng tối. Thấy sáng, thấy tối… sao nói là không thấy tâm nào cần điểm? Thấy đó là một tâm, và xa lìa nhân duyên sáng tối, là khi cái được thấy là cái được thấy, xa lìa cả ngôn ngữ “sáng, tối”… Đây là kinh nghiệm, không phải chữ để thuộc lòng. Chính ngay lúc đó, tâm hiện tại nói là biến mất cũng được, nói là một niệm ngàn năm cũng được, nhưng đó là khoảng khắc của quăng bỏ sắc thọ tưởng hành thức. Nếu cứ nói là “giữ tâm hiện tại” có khi sẽ mắc mưu các bác si Mỹ chỉ muốn dùng mindfulness để chữa bệnh và tìm cái khoái lạc hiện tại ở cõi này.Trong Kinh Pháp Cú, kệ 348 có lời dạy của Đức Phật tương tự. Kinh này cho thấy, sau khi Đức Phật dạy ngắn gọn rằng hãy buông bỏ hết ngũ uần (tức, buông bỏ: sắc thọ tưởng hành thức) trong quá khứ, hiện tại, vị lai… chàng trai làm xiếc tức khắc chứng qủa A La Hán ngay trên cột cao. Đây lại thêm trường hợp một cư sĩ chứng quả tối thượng, ngay khi đang làm xiếc. Chỉ vì một lời dạy của Đức Phật. Lời này cũng dạy phải quăng bỏ cái hiện tại. Nghĩa là, không một tâm có thể dính tới.Tích Truyện Pháp Cú, Kệ 348, do Thiền viện Viên Chiếu dịch, trích như sau:“…Phật đọc được tư tưởng của chàng liền bảo Trưởng lão Mục-kiền liên:- Ông hãy đến bảo con viên chưởng khố ta muốn xem chàng biểu diễn tài nghệ.Tôn giả đến bên cây cột nói với chàng diễn viên:Này, Uggasena Diễn viên xiếc tài ba! Hãy phô trương tài nghệ, Cống hiến dân thành ta.Uggasena nghe vậy vô cùng hoan hỉ: "Chắc đức Thế Tôn muốn xem tài năng của ta". Nghĩ vậy, chàng liền đáp, trong lúc vẫn đứng lơ lửng trên đầu cột:Hãy xem tôi, Mục-kiền-liên Tôn giả! Bậc đại trí, bậc đại thần thông! Tôi trổ tài cống hiến đám đông Và làm họ cười reo thỏa thíchTừ trên đầu cột chàng tung mình lên không, quay lộn mười bốn vòng rồi đặt chân trở lại, giữ thăng bằng trên đầu cột.Đức Thế Tôn bảo:- Này Uggasena, người trí phải biết cởi bỏ buộc ràng của thân ngũ uẩn trong quá khứ, hiện tại và vị lại. Như vậy, người ấy mới thoát được sanh, già, bệnh, chết.Ngài nói kệ:(348) Bỏ quá, hiện, vị lai, Đến bờ kia cuộc đời, Ý giải thoát tất cả, Chớ vướng lại sanh già.Phật nói xong, tám vạn bốn ngàn người được pháp nhãn thanh tịnh, con trai quan chưởng khố đắc quả A-la-hán và được thần thông ngay khi chàng còn đứng lơ lửng đầu cột.Chàng tụt xuống, tiến tới trước đức Thế Tôn, năm vóc gieo xuống đất đảnh lễ Phật và xin được gia nhập Tăng đoàn. Phật đưa tay nói: "Hãy đến, Tỳ-kheo!" Chàng liền biến thành một vị Trưởng lão chừng sáu mươi tuổi, với đầy đủ tám vật dụng tùy thân. Các thầy Tỳ-kheo hỏi Trưởng lão:- Này huynh Uggasena, huynh leo từ cây cột ba chục thước xuống mà không sợ sao?Uggasena đáp:- Chư huynh đệ, tôi chẳng sợ chút nào.Chúng Tỳ-kheo bạch Phật:- Bạch Thế Tôn, Uggasena nói "Tôi chẳng sợ chút nào" là nói điều không thật. Ông ấy phạm việc dối trá.Phật bảo:- Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo như Uggasena đã diệt trừ tham ái, không còn lo âu sợ hãi gì nữa.” (hết trích)Bản Việt dịch và Anh dịch để ở link (10). Chú ý câu bên trên: “tám vạn bốn ngàn người được pháp nhãn thanh tịnh” có nghĩa là 84.000 phiền não trong tâm tức khắc trở thành trí tuệ pháp nhãn. Đây là ý nghĩa của tám vạn bốn ngàn pháp môn. Kệ này cũng cho thấy y hệt như Kinh SA 17 rằng pháp môn này không cần trải qua thời gian tuần tự. Chỉ cần quăng bỏ hết các pháp…Chúng ta nói Thấy Tánh, có thực cần như thế không? Xin trả lời: Cực kỳ cần thiết, để khỏi chệch sang ngoại đạo: Có thể thấy một cảnh giác ghi về những pháp giữ tâm an lạc hiện tại kiểu Hoa Kỳ và Châu Âu (nếu chúng ta thuần túy giữ tâm an lạc trong hiện tại) qua bài “Kinh SA 79: Đức Phật Dạy Về Pháp Ngắn Gọn.”Kinh này sẽ làm sáng tỏ rằng giữ tâm an lạc nơi các pháp hiện tại có thể sẽ mang nhiều rủi ro chệch hướng. Trích bản Anh dịch, và sẽ chuyển ra Việt ngữ, như sau:“Saṃyuktāgama 79. Discourse on a Brief Teaching… At that time the Blessed One said to the monks: “Past and future bodily form is after all impermanent, what to say of present bodily form! A learned noble disciple who examines it in this way is not concerned with past bodily form and does not rejoice in future bodily form. Being disenchanted with present bodily form, he becomes free from desire for it and proceeds towards its cessation. Feeling … perception … formations … consciousness are also in this way…… As for “impermanent“, so with “dukkha“, “empty” and “not self” three discourses should be recited in the same way.”“Saṃyuktāgama 79. Kinh về Giáo pháp ngắn gọn… Vào lúc đó, Thế Tôn nói với các sư: “Thân quá khứ và tương lai đều vô thường, nói gì về thân hiện tại! Bậc thánh đệ tử nào khảo sát trong cách này sẽ không quan tâm gì về thân quá khứ, và không tìm sung sướng trong thân xác tương lai. Thấy hư ảo trong sắc thân hiện tại, sẽ không tham ái thân này và cứ giữ mãi cái thấy này cho tới khi thân diệt tận. Thọ… tưởng… hành… thức cũng nhìn như thế.…Tương tự, ba kinh sau sẽ thay chữ “vô thường” bằng chữ “bất như ý”, chữ “rỗng rang”, chữ “vô ngã” để tụng đọc như thế.” (11)Nhóm 4 chữ “khổ, vô thường, vô ngã, không” có nơi còn gọi là Tứ Pháp Ấn, tức lá 4 đặc tướng của các pháp thế gian. Như thế, chúng ta thấy rằng trong Kinh Pháp Cú 348 và SA.79, Đức Phật dạy quăng bỏ cả cái gọi là hiện tại. Và nhóm 4 chữ này hiểu là tương đương như nhau khi tu giải thoát. Nghĩa là, Đức Phật dạy rằng thực tướng của sắc thọ tưởng hành thức là: khổ, vô thường, vô ngã, không. Nhóm 4 pháp ấn này có thể diễn cho dễ hiểu là: tất cả các pháp đều bất như ý, đều biến dịch không ngừng, đều không hề có bất cứ gì gọi là tự ngã, đều rỗng rang không thực tướng.Có nghĩa là gì? Nghĩa là, không cần làm gì hết, chỉ cần thấy một pháp ấn thôi, là tất cả tự nhiên sụp đổ, là như Kinh SA 17 nói là sắc thọ tưởng hành thức bị bật gốc và buông bỏ.Một cách đơn giản là, không cần ngồi thiền, bạn hãy lặng lẽ ngó tâm mình, lặng lẽ và chỉ ngó tâm thôi, sẽ thấy các niệm chảy xiết và từ từ chạy chậm lại, bạn sẽ thấy các niệm đó vô thường (biến diệt), các niệm đó bất như ý (bạn không chủ động được), các niệm đó vô ngã (không thực thế), và tâm bạn thực sự là vô tâm (rỗng rang, vắng lặng). Không cần thấy hết 4 pháp ấn, chỉ cần thấy một thôi, cũng đủ để bạn thấy tham sân si không còn bám dính bạn nữa: nếu có niệm nào khởi lên, bạn chỉ ngó thôi, lập tức niệm biến ngay. Chư Tổ nói rằng niệm tham sân si cũng như bông tuyết bay, bạn chỉ cần ngó thấy là niệm sẽ rơi trên đất tâm và tan thành nước.Câu hỏi tới đây, rằng hiện tướng thân tâm và thế giới (tâm và cảnh) dưới mắt Đức Phật là gì? Nơi đây có thể dẫn Kinh SN 35.23 và Kinh SN 35.82 để trả lời. Hai kinh này rất ngắn, nên ghi toàn văn và dịch luôn ở đây.Sau đây là Kinh SN 35.23:“Saṃyutta nikāya 35: Connected discourses on the six sense bases23. The AllAt Savatthi. “Bhikkhus, I will teach you the all. Listen to that….“And what, bhikkhus, is the all? The eye and forms, the ear and sounds, the nose and odours, the tongue and tastes, the body and tactile objects, the mind and mental phenomena. This is called the all.“If anyone, bhikkhus, should speak thus: ‘Having rejected this all, I shall make known another all’—that would be a mere empty boast on his part. If he were questioned he would not be able to reply and, further, he would meet with vexation. For what reason? Because, bhikkhus, that would not be within his domain.”Dịch Kinh SN 35.23, trong ngoặc tròn là tác giả Việt dịch ghi thêm cho rõ:“23. Tất cả Tại thành Xá vệ, “Các sư, thầy sẽ dạy các sư về cái tất cả. Hãy lắng nghe…“Các sư, các gì là tất cả? Mắt và sắc (cái được nhìn thấy), tai và thanh (cái được nghe), mũi và mùi, lưỡi và hương vị, thân và cảm giác của thân, tâm và hiện tướng của tâm. Đó gọi là tất cả.“Các sư, nếu có ai nói rằng: ‘Dẹp bỏ hết cái tất cả này, tôi sẽ chỉ ra cái tất cả khác’ – đó sẽ chỉ là lời khoe khoang trống rỗng. Nếu người đó bị chất vấn, y sẽ không thể trả lời và thêm nữa, y sẽ lúng túng. Vì sao? Các sư, bởi vì ngoài cái tất cả đó (ngoài cái thấy và cái được thấy, ngoài cái nghe và cái được nghe, tương tự với mũi, lưỡi, thân, ý…) lại không nằm trong lĩnh vực của y.” (12)Sau đây là bản Kinh SN 35.82 và Việt dịch:“Saṃyutta nikāya 35 - connected discourses on the six sense bases82. The WorldThen a certain bhikkhu approached the Blessed One … and said to him: “Venerable sir, it is said, ‘the world, the world.’ In what way, venerable sir, is it said ‘the world’?”“It is disintegrating, bhikkhu, therefore it is called the world. And what is disintegrating? The eye, bhikkhu, is disintegrating, forms are disintegrating, eye-consciousness is disintegrating, eye-contact is disintegrating, and whatever feeling arises with eye-contact as condition … that too is disintegrating. The ear is disintegrating … The mind is disintegrating … Whatever feeling arises with mind-contact as condition … that too is disintegrating. It is disintegrating, bhikkhu, therefore it is called the world.”Kinhh SN 35.82 nói căn, trần, thức gộp lại là thế giới, dịch như sau:“82. Thế giớiKhi đó, một vị sư tới gần Thế Tôn… và nói với ngài: “Bạch Thế Tôn, khi nói thế giới, thế giới… trong ý nghĩa nào, thế giới được nói như thế?“Các sư, nó đang hư rã, nên được gọi là thế giới. Và cái gì đang hư rã? Mắt đang hư rã, sắc (cái được thấy) đang hư rã, nhãn thức đang hư rã, nhãn xúc đang hư rã, và bất cứ thọ nào khởi lên với nhãn xúc… cũng đang hư rã. Tương tự với tai… nhẫn tới ý… cũng đang hư rã. Các sư, đó đang hư rã, cho nên được gọi là thế giới.” (12)Hai kinh vừa dịch trên cho thấy tính bất nhị: tâm và cảnh (tât cả các pháp, hay toàn bộ thế giới) có thể hiểu là một, vì không phải là hai, nhưng vẫn không thể gọi là một, vì không một pháp nào có thực thể (vô ngã) nên không thể gọi là một hay nhiều. Hai kinh vừa dẫn cũng là nền tảng cho Thiền Tông, dẫn tới cái nhìn bất nhị, khi tâm cảnh nhất như. Cũng gọi là bình đẳng. Tới đây, độc giả có thể ngưng đọc vài phút, hãy tự nhìn vào tâm, giữ lòng cho lặng lẽ… Nếu bất chợt lúc đó có một tiếng chim kêu, có thể sẽ thấy rằng tiếng chim kêu đó chính là tâm hiển lộ và ngay lúc đó không có chữ nào để diễn tả, và sẽ tràn ngập cái hạnh phúc của khoảnh khắc nhận ra tâm sơ nguyên đó. Tính bất nhị là khi nhận ra ở đây: tâm không lìa tiếng chim kêu mà có, và tiếng chim kêu không lìa tâm mà có. Nhưng tâm và tiếng chim không phải hai, không phải một – và đó gọi cho gọn là bất nhị.Như vậy, khi quăng bỏ hết thế giới này, quăng bỏ tất cả cõi này, cái gì còn lại? Trong khoảng gần 10 kinh dẫn trên, cho thấy khi không dính gì tới “tất cả” hay khi không dính gì tới “thế giới” theo định nghĩa ở 2 kinh trên, là sẽ giải thoát, sẽ đắc quả A La Hán. Có nghĩa là, rời pháp thế gian, sẽ tức khắc thấy pháp xuất thế gian.Nơi một đoạn trên, chúng ta đã nói rằng phiền não tức bồ đề, tham sân si thực tướng là giải thoát (khi nhận ra tính hư ảo của các tâm này), như vậy, pháp xuất thế gian nằm ở đâu trong cõi này?Tới đây, chúng ta bước vào cõi bất nhị (còn gọi là thể không hai) của pháp Như.Trong bài viết “Giới Thiệu Thành Duy Thức” của Thầy Tuệ Sỹ, có đoạn, trích:“Đại Bát-nhã nói: “Pháp tính của Như Lai ở ngay trong uẩn, xứ, giới của các loại hữu tình, vận chuyển tiếp nối liên tục kể từ thời vô thủy; bản tính thanh tịnh không bị nhiễm ô bởi phiền não. Các tâm-ý-thức không thể vin vào đó làm đối tượng để sinh khởi.”…”(13)Có thể so sánh cho dễ hiểu: chúng ta thấy tất cả uẩn, xứ, giới (nghĩa là toàn bộ thế giới) hiện ra trong tâm gương sáng, rỗng rang, và bất kể sinh khởi, vận chuyển thế nào, tất cả đều mang sẵn pháp tính của Như Lai, tức đã sẵn giải thoát. Vì gương tâm rỗng rang không lìa cảnh mà có, và thế giới này không lìa tâm mà có. Thấy như thế, tức khắc sẽ không bị dính vào đâu hết.Trong “Kinh Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông” với bản dịch của Thubten Osall Lama – Nhẫn Tế Thiền Sư, nơi đoạn “II. Thấy Rõ Tánh của Mối Nút để Tức Thời Giải Thoát,” trích đoạn ý này như sau:“…Từ lúc Căn hợp với Trần mà trôi xuôi thì gọi là buộc. Từ lúc Căn ngược với Trần mà trở về nguồn, thì gọi là mở. Cái trói chính là sáu Căn, chứ không phải vật gì khác. Cái mở cũng là sáu Căn, chứ không còn vật gì khác. Thể vốn không hai vậy. Trong cái Thể không hai này mà soi xét, thì trói buộc chẳng là dơ, cởi mở chẳng là sạch. Nơi Thể không hai đó, chưa từng có thêm bớt, đó là Căn, Trần vốn đồng nguồn vậy, ai thấy là khác được ? Trói, mở vốn không hai, ai thấy được là hai ? Sở dĩ phân biệt chia tách, là do cái Thức vậy. Thức này hư vọng mà phân biệt, cũng như dụi mắt mà vọng thấy có không-hoa. Vốn nào có Căn, Trần lại vọng thấy Căn, Trần. Vốn nào có trói, mở mà vọng thấy trói, mở. Biết rõ cái Thức này, có cũng như do dụi mắt, bèn chuyển Thức về nguồn, thì con mắt trong sáng, nên chóng chứng an lạc giải thoát, Tịch Tịnh Diệu Thường. Chẳng phải ở nơi Căn mà quay lại, nhưng ở nơi Thức mà chuyển. Sao gọi là Thức hư vọng giống như hoa đốm ? Chẳng phải bảo là lìa cái Thức tánh hư vọng mà riêng có cái gọi là Tịch Tịnh Diệu Thường đâu. Chỉ cần tin cái Thức là hư vọng, thì Diệu Thường ở ngay nơi Thức. Chỉ cần tin hoa đốm không tự tánh, thì con mắt sáng trong ở ngay tại không-hoa.” (14)Như thế, giải thoát đã là ngay khi cảnh hiện ra ở gương tâm rỗng rang ngời sáng. Nếu ngay lúc đó, bị cảnh lôi kéo đi (thí dụ, trong lễ hội âm nhạc, chợt khởi tâm quyến luyến giọng ca mùi mẫn và nhan sắc của cô ca sĩ). Như vậy, có pháp nào cho người tu không bị chệch hướng? Bồ Đề Đạt Ma nói là phải thấy tánh, thấy cái rỗng rang ngời sáng đó, thì cảnh tới (như chim bay tới) rồi cảnh sẽ biến đi không dấu tích (chim không lưu dấu trên hư không); có cách tiếp cận y hệt pháp Như do Đức Phật dạy ở trên, ghi lại trong chương Ngộ Tánh Luận ở cuốn Thiếu Thất Lục Môn, bản của Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải, trích:“Nói pháp Đại thừa hay Tối thượng thừa đều là nói đến chỗ sở hành của Bồ-tát. Không gì không là pháp ấy, lại cũng không có gì là pháp ấy. Suốt ngày tu pháp ấy mà chưa từng tu pháp, đó là Phật thừa. Kinh dạy rằng: “Vô thừa là Phật thừa.”Như có người nào rõ biết rằng sáu căn là không thật, năm uẩn đều là tên gọi giả tạo, cầu tìm khắp trong đó cũng không có chỗ nào chắc thật, nên biết rằng người ấy đã hiểu được lời Phật dạy. Kinh dạy rằng: “Nơi tụ hội của năm uẩn gọi là thiền viện. Soi sáng trong tâm, mở thông rõ biết tức là pháp Đại thừa. Không nhớ tưởng bất cứ pháp nào nên gọi là thiền định.” Nếu như hiểu rõ được lời dạy này thì dù trong khi đi đứng nằm ngồi cũng đều là thiền định.Rõ biết tâm là không, gọi là thấy Phật. Vì sao vậy? Mười phương chư Phật đều dùng chỗ tâm không ấy. Không thấy ở nơi tâm gọi là thấy Phật. Lìa bỏ tâm không tham tiếc gọi là sự bố thí lớn lao.” (15)Tính bất nhị của tâm và pháp, hay tâm và cảnh, còn ghi lại trong tích Niêm Hoa Vi Tiếu. Theo truyền thuyết, khi Đức Phật cầm hoa đưa lên, ngài Ca Diếp mỉm cười. Có phải vì lúc đó, ngài Ca Diếp nhận ra trong cánh hoa (cái được thấy) đó thực sự là hiện tướng trong gương tâm rỗng rang chiếu sáng? Hay như trong Kinh Pháp Bảo Đàn, khi ngó thấy phướn bay, tức thời thấy ngay tâm động (vì phướn không lìa tâm)? Lời dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma trong ngôn ngữ cụ thể hơn: rằng hoa chính là tâm, rằng tâm chính là hoa, rằng hoa và tâm là bất nhị, nhưng hoa và tâm cũng không thể gọi là một dù rằng (lúc đó) lìa hoa không có tâm. Tâm cảnh nhất như cũng là một cửa vào.Pháp an tâm này Đức Đạt Lai Lạt Ma đã dạy trong rất nhiều pháp hội khắp thế giới, và sau này ghi lại trong tác phẩm “The Gelug-Kagyu Tradition of Mahamudra”… Mahamudra, hay Đại Thủ Ấn, chính là Thiền Đốn Ngộ truyền dạy theo phiên bản Phật Giáo Tây Tạng. Đức Đạt Lai Lạt Ma giải thích tính bất nhị của tâm và cảnh (hay cái được thấy, được nghe…), và chúng ta sẽ thấy trở lại y hệt như các kinh Đức Phật dạy về pháp Như, trích như sau (nếu độc giả có bản giấy in 1997, đoạn này ở trang 61, nhưng ghi chú sẽ có link cho bản điện tử): “The Nonduality of Subject and ObjectBuddha taught the nonduality of that which has an object and its object – usually translated as the "nonduality of subject and object." We must understand this point correctly, otherwise we may mistakenly think that Buddha contradicted himself when he also taught that mind always has an object. We may think this implies that since the two are different, they are dual. If we become angry with the table, the nonduality of subject and object, however, does not mean that my anger is the table. Nonduality does not render mind and its objects totally identical – one and the same thing.Experience always has contents. We cannot have an experience without experiencing something. A thought does not exist without a thinking of the thought, and no one can think without thinking a thought. Nondual, then, means that in any moment, these two things – mind and its object, or experience and its contents – always come together as one entity. Putting this in simple, everyday language, we can say they always come together in the same package. There cannot be one without the other. Therefore, in Buddhism "mind" always refers to experience with contents.”Việt dịch:“Tính Bất nhị của chủ thể và đối thểĐức Phật dạy về tính bất nhị của hiện tướng, nơi đó có một pháp và một vật của nó – thường được dịch như là “tính bất nhị của chủ thể và đối thể.” Chúng ta phải hiểu điểm này chính xác, nếu hông, chúng ta sẽ nghĩ nhầm rằng Đức Phật tự mâu thuẫn khi ngài dạy rằng tâm luôn luôn có một vật (cảnh). Chúng ta có thể nghĩ rằng thế là ám chỉ rằng bởi vì cả hai pháp đó khác nhau, chúng là hai. Nếu chúng ta nổi giận với cái bàn, tính bất nhị của tâm và vật, tuy nhiên, không có nghĩa rằng nỗi giận của tôi là cái bàn. Tính bất nhị khôngc ó nghĩa rằng tâm và cảnh hoàn toàn y hệt nhau – một và cùng như thế.Kinh nghiệm luôn luôn có nội dung trong đó. Chúng ta không thể có một kinh nghiệm mà không kinh nghiệm về cái gì. Một niệm không hiện hữu mà không nghĩ về niệm đó, và không ai có thể suy nghĩ mà không nghĩ về một niệm. Do vậy, bất nhị có nghĩa là trong bất kỳ khoảnh khắc nào, hai thứ này – tâm và cảnh [của tâm], hay kinh nghiệm và nội dung của nó – luôn luôn đi chung như một thể. Nói cho đơn giản, trong chữ đời thường, chúng ta có thể nói rằng chúng luôn luôn đi chung nhau trong cùng một gói. Không có thể có một cái này mà không có cái kia. Do vậy, trong Phật Giáo, “tâm” luôn luôn chỉ tới kinh nghiệm với nội dung của nó.” (16)Khi đã thấy bất nhị giữa tâm và cảnh, có nghĩa là trong cái thấy này, tất cả các pháp hiện ra trước mắt (hay nghe bên tai) đều bất động (không lay động), bất kể là mưa bay tuyết thổi trước mắt (hay gió gầm rú bên tai). Xin nhắc rằng tất cả những dòng chữ viết trong bài này đều rất thực dụng, độc giả thỉnh thoảng có thể ngưng đọc vài phút để thử nhìn tâm là sẽ thấy. Vì cái rỗng rang chiếu sáng bao trùm tất cả các pháp thực ra xa lìa cả động và bất động.Pháp môn Thiền Tông cực kỳ ảo diệu, vì ngộ đạo xong, nói gì cũng không nhầm. Do vậy, nói tâm cảnh nhất như cũng đúng.Nói quăng bỏ cả tâm và cảnh cũng đúng.Nói mặc kệ muôn cảnh vạn pháp, chỉ thấy trước mắt cái tâm rỗng rang gương sáng này cũng đúng.Nói mặc kệ tâm, mặc kệ cảnh cũng đúng.Bốn câu vừa rồi là diễn lại 4 cách ngài Lâm Tế thường dạy học nhân.Tương tự, trong dòng Thiền Tào Động, các bài kệ Động Sơn ngũ vị, nếu:- thay chữ "Chính" bằng chữ "Không" hay "thể rỗng rang gương sáng của tâm" và- thay chữ "Thiên" bằng chữ "cảnh" hay "muôn pháp",các bài kệ trong dòng Thiền này sẽ hiện ra là hình thức khác của các giáo pháp ngắn gọn do Đức Phật dạy đã nêu trong các kinh trên.Tới đây, chúng ta sẽ dẫn lời của Đức Phật trong Kinh SA.21 cũng là một cách tiếp cận với pháp Như. Kinh này cũng dạy cho các vị sư muốn học pháp cốt tủy ngắn gọn để lui về một góc rừng tu chỉ một pháp này thôi.Kinh SA.21 bản Anh dịch (cũng như Kinh SN 35.23 và Kinh SN 35.82 nêu trên) đều do ngài Bhikkhu Bodhi thực hiện. Trong kinh này không hề nói phải tu hay phải mài giũa gì, cũng không dạy phải quán chiếu gì, Đức Phật chỉ nói là chớ dao động, bất kể cảnh nào hiện ra. Có một chữ “tâm như tường vách” của Bồ Đề Đạt Ma, hay đơn giản hơn, hãy để tâm tự nhiên, ngay nơi thể rỗng rang của tâm đã là như như bất động. Trích dịch như sau. “Saṃyuktāgama: 21. Discourse on Being AgitatedThus have I heard. At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s Park. A that time a certain monk rose from his seat, paid homage to the Buddha and said to the Buddha:“May the Blessed One teach me the essentials of the Dharma in brief. On having heard the Dharma I shall alone and in a quiet place reflect on it with energy. Having become established in it without negligence, I shall reflect on that for whose sake a clansman’s son out of right faith goes forth to homelessness … up to … knowing myself that there will be no receiving of further existence.’”“SA.21: Kinh về Bị Dao ĐộngTôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật ở thành Xá vệ, nơi rừng Kỳ đà, trong vườn Cấp Cô Độc. Lúc đó một vị sư từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Đức Phật và bạch:“Kính xin Đức Thế Tôn dạy cho con phần cốt tủy của Giáo pháp ngắn gọn. Khi nghe xong, con sẽ đơn độc về một góc vắng lặng để nhiệt tâm tu pháp này. Vào pháp này không buông lơi, con sẽ thọ trì pháp này vì lợi ích của con trai của một bộ tộc khi xuất gia, trở thành kẻ không nhà… cho tới… tự biết là không còn thọ thân sau nữa. At that time the Blessed One said to that monk: “It is well, it is well, that you speak like this: ‘It would be well if the Blessed One would teach me the essentials of the Dharma in brief. On having heard the Dharma, I shall alone and in a quiet place reflect on it with energy. Being established in it without negligence … up to … knowing myself that there will be no receiving of further existence.’ Is it like this?” The monk said to the Buddha: “It is like this, Blessed One.”Lúc đó, Đức Phật nói với vị sư kia, “Tốt lắm, tốt lắm, khi con nói thế này, “Con hoan hỷ nếu Đức Thế Tôn dạy con phần cốt tủy của Giáo pháp ngắn gọn. Khi nghe xong, con sẽ đơn độc về một góc vắng lặng để nhiệt tâm tu pháp này. Vào pháp này không buông lơi, con sẽ thọ trì pháp này vì lợi ích của con trai của một bộ tộc khi xuất gia, trở thành kẻ không nhà… cho tới… tự biết là không còn thọ thân sau nữa.’ Có phải không?” Vị sư nói với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, đúng là như thế.”The Buddha said to the monk: “Listen, listen and pay careful attention to what I will tell you. Monk, at the time of being agitated, one is bound by Māra. If one is not agitated, one is free from the Evil One.” The monk said to the Buddha: “I understood, Blessed One, I understood Well Gone One!”The Buddha said to the monk: “How do you understand in full the meaning of the teaching I herein spoke in brief?” The monk said to the Buddha: “Blessed One, at the time of being agitated by bodily form, one is bound by Māra. If one is not agitated, one is free from the Evil One. In the same way at the time of being agitated by feeling … perception … formations … consciousness, one is bound by Māra. If one is not agitated, one is free from the Evil One. Blessed One, I thus understand in full the meaning of the teaching herein spoken in brief.”Đức Phật nói với vị sư: “Hãy nghe, hãy nghe và chú ý tới lời Thầy sẽ nói với con. Ty kheo, vào lúc bị dao động, sẽ bị Ma vương trói buộc. Nếu có ai không dao động, người đó sẽ xa lìa Ma vương.” Vị sư nói với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, con hiểu rồi, con đã hiểu Như Lai!”Đức Phật nói với vị sư: “Làm sao con hiểu đầy đủ ý nghĩa giáo pháp Thầy vừa mới nói ngắn gọn?” Vị sư nói với Đức Phật: “Bạch thế Tôn, vào lúc bị dao động bởi sắc thân hình hài, sẽ bị trói buộc bởi Ma vương. Nếu có ai không dao động, người đó sẽ xa lìa Ma vương. Tương tự, vào lúc bị dao động bởi thọ… tưởng… hành… thức, người đó sẽ bị trói buộc bởi Ma vương. Nếu có ai không bị dao động, người đó sẽ xa lìa Ma vương. Bạch Thế Tôn, như thế con hiểu đầy đủ ý nghĩa giáo pháp được tuyên thuyết ngắn gọn!” (17)Thiền Tông nói rất nhiều về pháp như như bất động. Ngay trong Tâm Kinh Bát Nhã cũng là một diễn giải khác của pháp quăng bỏ sắc thọ tường hình thức, để hiển lộ ra cái rỗng rang không tướng của tâm.Bất kỳ ai cũng có thể tu học Thiền Tông. Pháp này không cần ngồi, vì sẽ tu trọn ngày, cả khi khi đi đứng nằm ngồi. Bạn có thể ngồi nhìn ra biển, hay đi bộ bên góc núi, hay ngay cả khi đọc sách, khi đang làm thơ, luôn luôn thấy tâm lặng lẽ ứng phó mọi trường hợp mà không để dính theo bất kỳ pháp nào. Nếu không tự nhiên lặng lẽ được, có thể theo những phương tiện khác do chư Tổ dạy. Thực sự, khi trọn ngày không lìa Tự Tánh (rỗng rang, gương sáng), tất nhiên không dễ cảnh nào lay động nổi. Dù vậy, có một số ngành nghề trong xã hội bất lợi cho việc tu Thiền. Chỗ này, mỗi hoàn cảnh nên tự nghiệm ra, vì không thể rời giới định huệ.Nơi đây, có thể dẫn ra một lời dạy về pháp như như bất động từ Kinh Pháp Bảo Đàn, bản dịch của Hoà Thượng Thích Thanh Từ, nơi Phẩm Cơ Duyên, trích:“…Diệu trạm viên tịch, thể dụng như như, năm ấm vốn không, sáu trần chẳng phải có, chẳng ra chẳng vào, chẳng định chẳng loạn, tánh thiền không trụ, lìa trụ thiền tịch, tánh thiền không sanh, lìa sanh thiền tưởng, tâm như hư không cũng không có cái lượng của hư không……Ông chỉ tâm như hư không mà chẳng có kiến chấp không, ứng dụng không ngăn ngại, động và tịnh đều không tâm, tình phàm Thánh đều quên, năng sở đều dứt, tánh tướng như như, không có lúc nào mà chẳng định.” (18)Hay là lời dạy của ngài Hoàng Bá, nói về thấy nghe hay biết (kiến văn giác tri) giống hệt lời Đức Phật dạy trong các kinh dẫn nơi đầu bài viết.Trong “Truyền Tâm Pháp Yếu,” ngài Hoàng Bá dạy, bản dịch của Hòa Thượng Thích Duy Lực, trích:“Cái tâm bổn nguyên thanh tịnh này thường tự tròn đầy sáng tỏ chiếu soi khắp nơi, người đời chẳng ngộ chỉ nhận kiến văn giác tri là tâm, bị kiến văn giác tri che khuất cho nên chẳng thấy cái bản thể tinh diệu sáng tỏ. Nếu ngay đó vô tâm thì bản thể tự hiện như mặt trời trên hư không chiếu khắp mười phương chẳng gì chướng ngại. Người học đạo chớ nên chỉ nhận kiến văn giác tri, động tác làm việc, cho đó là tâm, cũng chớ nên bỏ hẳn kiến văn giác tri khiến cho đường tâm bị bít tuyệt chẳng có chỗ nhập. Hãy ngay nơi kiến văn giác tri nhận bản tâm, nhưng bản tâm chẳng thuộc kiến văn giác tri cũng chẳng lìa kiến văn giác tri. Chớ nên ở nơi kiến văn giác tri sanh khởi kiến giải, nghĩa là chớ ở nơi kiến văn giác tri động niệm. Cũng chớ lìa kiến văn giác tri tìm tâm, cũng chớ bỏ kiến văn giác tri lấy pháp. Bất tức bất ly, chẳng trụ chẳng chấp,tung hoành tự tại đều là đạo tràng.” (19)Hay là pháp tham thoại đầu. Bạn hãy khởi lên trong tâm chữ “Ai?” hay “Ai đó?” rồi nhìn vào chỗ khi niệm chưa sanh, xem là cái gì… Hay là một lời dạy tuyệt vời từ Ngài Hư Vân trong sách “Hư Vân Lão Hòa Thượng” bản dịch và ghi chú của Báo Ân. Cũng là lối vào một pháp tham thoại đầu, trích văn nơi đây kèm 2 ghi chú: “Chỉ ĐƠN ĐỘC nơi một niệm “Trạm nhiên tịch chiếu, như như bất động, linh linh bất muội, liễu liễu thường tri” này (21), như “Lãnh hỏa trừu yên”(22), tựa một sợi chỉ dài dằng dặc không đứt đoạn....21. MỘT niệm “TRẠM NHIÊN TỊCH CHIẾU, NHƯ NHƯ BẤT ĐỘNG, LINH LINH BẤT MUỘI, LIỄU LIỄU THƯỜNG TRI”:- Trạm nhiên tịch chiếu: rõ ràng trong suốt, yên lặng mà chiếu soi muôn vật. - Linh linh bất muội: linh minh không mê muội. - Liễu liễu thường tri: rõ ràng thường biết. Tấm gương sáng lúc chiếu soi vạn hữu thì “Trạm nhiên tịch chiếu, như như bất động”, nhưng gương là vật vô tri nên không “linh linh bất muội, liễu liễu thường tri”. Còn chúng hữu tình do có “tánh giác” nên khi chiếu soi vạn hữu thì vừa “Trạm nhiên tịch chiếu, như như bất động” lại vừa “linh linh bất muội, liễu liễu thường tri”.22. LÃNH HOẢ TRỪU YÊN: Lửa sau khi tắt gọi là lãnh hỏa.Trừu yên là rút khói .Tức làn khói nhẹ bốc lên từ vật được đốt cháy (ví dụ như thuốc lá) khi lửa vừa tắt.” (20)Tới đây, tự thấy đã dài, xin ngừng bài viết. Lời cuối, xin trân trọng đảnh lễ tạ ơn tới Tam Bảo, và ba mẹ nhiều đời. Và cũng trân trọng tạ ơn tới tất cả quý thầy mà người viết đã có cơ duyên đọc trong kiếp này, trong đó có Đức Đạt Lai Lạt Ma, HT Duy Lực, HT Thanh Từ, HT Minh Châu, HT Nhất Hạnh, HT Đức Thắng, Thầy Tuệ Sỹ, ngài J. Krishnamurti, rất nhiều vị thầy khác, và tất cả các thiện hữu tri thức. Và đặc biệt, trân trọng tạ ơn bổn sư Thích Tịch Chiếu và sư thúc Thích Thường Chiếu ở Chùa Tây Tạng Bình Dương, nơi người viết nhiều thập niên trước đã học Tổ Sư Thiền.Nguyên Giác**------------------Ghi chú:(1) Kinh Bahiya: http://thuvienhoasen.org/p31a14273/bai-phap-khan-cap-bahiya-sutta (2) Kinh Malunkyaputta: http://thuvienhoasen.org/a23653/kinh-malunkyaputta-va-giao-phap-ngan-gon (3) Kinh Khemaka: http://thuvienhoasen.org/a23991/kinh-khemaka-ung-vo-so-tru (4) Kinh Kalaka: http://thuvienhoasen.org/a24068/kinh-kalaka-sutta-thay-biet-ma-khong-dung-lap-thay-biet (5) Kinh Cetana: http://thuvienhoasen.org/a24172/kinh-cetana-sutta-cho-dung-lap-y-niem (6) Kinh SA 17: http://thuvienhoasen.org/a24220/kinh-sa-yukt-gama-17-bung-goc-va-buong-bo (7) Tích Truyện Pháp Cú, Kệ 170. Bản Việt dịch: http://thuvienhoasen.org/a10744/xiii-pham-the-gian Bản tiếng Anh: http://www.vipassana.info/h.htm#fivehundred (8) Kinh Kim Cang Giảng Giải: http://thuvienhoasen.org/p17a1872/32-ung-hoa-phi-chan (9) Kinh Viên Giác: http://thuvienhoasen.org/p16a771/4/kinh-vien-giac (10) Bản Việt dịch: http://thuvienhoasen.org/p22a10755/xxiv-pham-tham-ai Bản Anh dịch: http://www.vipassana.info/l.htm#348 (11) Xem Kinh SA.79 ở đây: https://suttacentral.net/en/sa79 (12) Xem Kinh SN 35.23 https://suttacentral.net/en/sn35.23 Xem Kinh SN 35.82 https://suttacentral.net/en/sn35.82 (13) Xem: http://phatviet.com/html/nghiencuu/tsncpl09/ncpl0901.htm(14) Xem: http://thuvienhoasen.org/a1226/quyen-v (15) Xem http://thuvienhoasen.org/p33a7678/ngo-tanh-luan (16) Xem: http://www.berzinarchives.com/web/en/archives/e-books/published_books/gelug_kagyu_mahamudra/pt1/mm_04.html (17) Xem: https://suttacentral.net/en/sa21 (18) Xem: http://thuvienhoasen.org/p17a1634/pham-thu-bay-co-duyen (19) Xem: http://thuvienhoasen.org/a16773/hoang-ba-thien-su-truyen-tam-phap-yeu (20) Xem http://tuvien.com/to_su_thien/show.php?get=1&id=thientosu-phuongphapthamthien
Nguồn Phatgiao.org.vn
Xuất bản 27 thg 11, 2016Các bạn đi chùa nhé
Link nhạc niệm Phật
http://www.kinhphat.org/music/5_a_di_...* Danh mục
+ Mọi người và Blog
* Giấy phép
+ Giấy phép chuẩn của YouTube
Tịnh CườngSáng ngày 22/11/2016 nhằm ngày 23/10 năm Bính Thân tại Chùa Tăng Phúc số 27 Phố Thượng Thanh, Phường Thượng Thanh, Quận Long Biên Thành Phố Hà Nội đã long trọng tổ chức Pháp hội niệm Phật cầu quốc thái dân an và tọa đàm về pháp môn Tịnh Độ.
Đến chứng minh và tham dự có: TT. Thích Nhật Từ - Ủy viên HĐTS, Phó viện trưởng Nghiên cứu Phật Học VN - Phó viện trưởng Học Viện Phật Giáo VN tại TP. Hồ Chí Minh; TT. Thích Chiếu Tuệ - Ủy viên HĐTS,Trưởng ban Hoằng Pháp GHPGVN thành phố Hà Nội; TT. Thích Thanh Trung - Trưởng BTS GHPGVN quận Long Biên; ĐĐ. Thích Quảng Phú - Ủy viên BTS GHPGVN thành phố Hà Nội, Chánh thư ký BTS GHPGVN huyện Thạch Thất Hà Nội; Sư Cô Thích Đồng Hòa - Ủy viên Ban Hoằng Pháp, ban Văn Hóa TW GHPGVN, trụ trì chùa Tăng Phúc.Về phía đại biểu quan khách tham dự có: Ông Bùi Hữu Dược - Vụ trưởng Vụ Phật Giáo Ban Tôn Giáo Chính Phủ; Ông Phạm Văn Thành – Giám đốc trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người; Bà Trần Thị Thanh Hồng – Phó chủ tịch UBND phường Thượng Thanh; Ông Nguyễn Văn Tẩm – Trưởng tiểu ban quản lý di tích đình chùa Tăng Phúc cùng quý vị đại diện cho các cơ quan ban ngành chức năng và đông đảo nhân dân tín đồ Phật tử đã về tham dự pháp hội.Phát biểu khai mạc tại pháp hội niệm Phật sư cô Thích Đồng Hòa chia sẻ: Đức Phật thị hiện ra đời, chuyển bánh xe pháp mở ra tám vạn bốn ngàn pháp môn cho chúng sinh tùy căn cơ tu tập. Mỗi pháp môn lại có những yếu chỉ và diệu dụng riêng biệt. Song dù pháp môn nào cũng không ngoài mục đích diệt tận vô minh, tìm cầu giải thoát. Tịnh độ là một tông phái chủ trương lập đại nguyện hướng về tây phương cực lạc, nơi có đức Phật A Di Đà là giáo chủ. Một trong những pháp môn của Tịnh Độ là niệm hồng danh đức Phật A Di Đà để tâm thu về một niệm, cốt để loại trừ não phiền, vọng tưởng điên đảo. Người niệm hồng danh lục tự Nam Mô A Di Đà Phật đến lúc nhất tâm bất loạn có thể đạt đến cảnh giới giải thoát nơi tâm và khi thân hoại mạng chung được sinh về cõi Phật.Trong buổi tọa đàm, tiến sĩ Bùi Hữu Dược cũng đã bày tỏ niềm vui được về tham dự pháp hội ngày hôm nay . Pháp hội được tổ chức nhằm cầu quốc thái dân an là một việc làm đầy ý nghĩa và đầy trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội.Nhân dịp này Thượng tọa Thích Nhật Từ chia sẻ: Niệm Phật để nuôi dưỡng lòng Từ Bi, trở thành Phật chứ không phải là nô lệ hay tôi tớ cho Phật. Niệm Phật cũng là phép điều hòa hơi thở cho nhẹ nhàng. Đi, đứng, nằm ngồi đều có thể niệm Phật giúp tâm trí ta trong sạch, lòng dạ ngay thẳng, hiền từ, ngăn chặn những cám dỗ điên cuồng, tâm đạt đến sự bình ổn...Cho nên niệm Phật cũng là phép trị liệu, bảo vệ sức khỏe, giải trừ bớt ác nghiệp gây tạo trong quá khứ, lúc lâm chung không còn lo sợ, không phải nhờ ai cứu giúp. Một mình thẳng tiến lên Thế giới cực lạc của Phật A Di Đà. Do những kết quả tốt lành như thế mà chúng ta nên luôn luôn niệm Phật và làm tất cả các việc lành như lời dạy của Phật ở mọi lúc mọi nơi, mọi hoàn cảnh, mọi tình huống.Tại pháp hội, toàn thể hội chúng đã nhất tâm niệm Phật trong không khí trang nghiêm thanh tịnh nhằm đem lại lợi lạc cho chính bản thân mỗi hành giả bởi sự tĩnh lặng của tâm thức khi đặt hết vào câu niệm Phật, giúp buông xả những lụy phiền của thế gian. Hơn thế nữa giúp cho người tu tập tích góp công đức làm hành trang để được hướng về cảnh giới Tây Phương Cực lạc của đức Phật A Di Đà, hồi hướng công đức siêu độ cho những người quá cố, cửu huyền thất tổ ông bà cha mẹ, oan gia trái chủ được vãng sinh về cảnh giới an lành, nhằm báo đền công ơn của tổ tiên. Đồng thời cầu nguyện Quốc thái dân an, thế giới hòa bình chúng sinh an lạc.
Pháp hội đã tạo duyên lành cho hơn 1000 Phật tử được tu tập chuyển hóa thân tâm và có cái nhìn chính kiến về pháp môn Tịnh độ và phương pháp trợ niệm như lý như pháp đúng theo lời dạy của lịch đại Tổ Sư. Buổi chiều cùng ngày toàn thể hội chúng được nghe quý thầy chia sẻ pháp thoại.Nguồn phattuvietnam.net
Cập nhật lúc 08:22 23/11/2016 (GMT+7)
(PGVN)
Pháp môn này là con đường Trung đạo, theo đó Vô niệm được coi như là một phương pháp vượt thoát giữa những đối cực của cuộc sống. Chúng vượt qua khỏi mọi hệ thống tương đối có giá trị trên mặt nhân quả, để từ đó tạo cho hành giả một bước đi mới qua tùy duyên, không can hệ lệ thuộc vào các đối cực lưỡng biên tà kiến.I. Từ Hoàng Mai đến Đông SơnSau khi Lục tổ Đại sư đắc Pháp từ Ngũ tổ Hoằng Nhẫn ở Hoàng Mai, cho đến ngày đắc Giới tại Đông Sơn là khoảng thời gian dài mười lăm năm ẩn tu trong đám thợ săn. Trong khoảng thời gian này, bài pháp đầu tiên để dạy người của Lục tổ Đại sư là bài pháp nảy sinh từ lòng trắc ẩn, và cái thế chẳng đặng đứng trước lòng ngoa ngụy của con người, vào lúc đó Lục tổ không thể chối từ được (vì trước đó Lục tổ đã được Ngũ tổ dặn dò trước khi ra khỏi Hoàng Mai, là không được vội vàng nói pháp cho bất cứ ai, vì sợ rằng Phật pháp khó hưng thịnh sau này).Bài pháp đầu tiên này nói ra để độ cho kẻ đang muốn đoạt 'y bát' và ngay cả mạng sống của mình với bất cứ giá nào! Điều đó đã chứng tỏ được lòng vô úy và từ bi của người như thế nào rồi. Qua đây Huệ Minh đã nhìn lại được bản lai diện mục của chính mình qua việc: "Không nghĩ thiện không nghĩ ác, ngay lúc đó cái gì là bản lai diện mục của Huệ Minh thượng tọa?"(Pháp Bảo Đàn).Ngoài bài pháp đầu tiên dành cho thượng tọa Huệ Minh trên bước đường lẫn tránh vào Nam, và những bài pháp mà Lục tổ Đại sư đã phương tiện tùy nghi nói cho bọn thợ săn trong vòng mười lăm năm không ghi chép lại, còn có hai bài pháp nữa đó là bài "Tâm động" và "Pháp không hai." Đây là hai bài pháp mở đầu cho sự xuất hiện sau này của Lục tổ Đại sư khi ra dạy người, và cũng là hai bài pháp trực tiếp đưa đến việc đắc Giới tại Đông Sơn của người. Trong kinh Pháp Bảo Đàn, phần cuối của phẩm Hành Do viết:Một hôm Lục Tổ suy nghĩ đã đến lúc nên ra hoằng pháp, không nên ẩn lánh mãi được, liền đi đến chùa Pháp Tính tại Quảng Châu, gặp lúc pháp sư Ấn Tông đang giảng kinh Niết Bàn.Lúc bấy giờ, gió thổi lay động lá phướn. Một vị tăng bảo rằng gió động, một vị tăng khác bảo là phướn động, tranh luận nhau mãi. Huệ Năng bước đến bảo rằng:Chẳng phải gió động, cũng chẳng phải phướn động, mà chính tâm hai nhân giả động đó! Cả chúng đều giật mình.Ấn Tông mời lên chỗ cao ngồi và, gạn hỏi nghĩa lý sâu xa. Thấy lời đối đáp của Huệ Năng đơn giản, nhưng nghĩa lý lại chính xác, mà không theo văn tự cú pháp nào.Tông nói:- Hành giả nhất định không phải là người thường. Từ lâu đã nghe Y - pháp của Hoàng Mai truyền vào phương nam, chẳng phải là hành giả thì ai đây?Huệ Năng nói:- Chẳng dám!Tông liền làm lễ, và xin cho đại chúng được xem Y - bát truyền lại.Tông hỏi:- Khi phó chúc Hoàng Mai truyền dạy như thế nào?Huệ Năng bảo:Truyền dạy thì không, nhưng chỉ luận về "thấy tính" chứ chẳng luận về thiền định hay giải thoát gì cả.Tông hỏi:- Tại sao không luận về thiền định hay giải thoát?Huệ Năng bảo:- Vì hai pháp chẳng phải Phật pháp, mà Phật pháp là pháp không hai.Tông lại hỏi:
- Sao gọi pháp không hai là Phật pháp?Huệ Năng nói:- Pháp sư giảng kinh Niết bàn đã làm rõ Phật tính, thì đó chính là pháp không hai của Phật pháp. Như Bồ tát Cao quý Đức vương bạch Phật:- Người phạm vào cấm giới thuộc Bốn tội nặng, tạo Năm tội nghịch cùng bọn Nhất xiển đề thì Phật tính thiện căn của họ có bị đoạn mất không?Phật dạy:- Thiện căn có hai: Một là thường, hai là vô thường; còn Phật tính thì chẳng phải thường, chẳng phải vô thường cho nên chẳng bị đoạn, đó gọi là không hai. Một là thiện hai là bất thiện, còn Phật tính chẳng phải thiện chẳng phải bất thiện, đó gọi là không hai. Uẩn và Giới phàm phu thấy hai, người trí liễu đạt tính của chúng không hai, tính không hai là Phật tính.Ấn Tông nghe xong nói:- Tôi giảng kinh như gạch ngói, còn nhân giả luận nghĩa như vàng ròng.Nhân đây xuống tóc cho Huệ Năng và nguyện thờ làm thầy. Huệ Năng liền mở pháp môn Đông Sơn dưới cây Bồ đề."Qua ba bài pháp này, ở đây thứ nhất thượng tọa Huệ Minh đã ngộ được cái chi ngay lúc "không nghĩ thiện không nghĩ ác"? Đây phải chăng là bài pháp báo hiệu mở đầu cho phương pháp dạy người sau này qua "Vô niệm" của người để qua đó nhận ra ngay cái bản lai diện mục của mỗi chúng ta trong cuộc sống. Đây là cách thể hiện Tông chỉ của Bồ Đề Đạt ma qua "Trực chỉ nhơn tâm kiến tính thành Phật" theo thể điệu và phương pháp thực tiễn của người Trung hoa đối với cuộc sống. Sự thể hiện này, được áp dụng ngay trong bài pháp thứ hai khi Lục tổ ra chùa Pháp Tính ở Quảng Châu nhân gặp hai vị Tăng đang tranh luận về "Gió động hay Phướn động." Một câu trả lời mới nghe ra như là đơn giản, nhưng đã đánh động làm chao đảo tận nguồn gốc tâm thức mọi người.Ở đây, gió động hay phướn động? Tất cả đều là cảnh ngoài, chúng không có bất cứ giá trị thực hữu nào, vì chúng không can hệ gì đến chúng ta. Chúng chỉ có giá trị được khi tâm chúng ta khởi lên tác ý và, chúng được vọng tâm của chúng ta áp đặt lên chúng những giá trị mà chúng không bao giờ có. Do đó, chúng trở nên là thật có đối với một tâm hồn mê mờ mà thôi, trên thực tế chúng chỉ là những chiếc bóng không thật. Qua đây rõ ràng chúng ta đã tự đánh mất bổn tâm, đã tự vong thân chấp vào những pháp giả huyễn không thật có ở bên ngoài cho là thực hữu, và vì vậy cho nên có Gió động hay Phướn động.
Sự hiện hữu của Gió động hay Phướn động ở đây chỉ là cái bóng của vọng tâm (hữu tâm) áp đặt lên chúng chứ cũng chưa phải là vọng tâm (Cái tâm động (vọng tâm) này, thật ra ở đây chúng cũng chưa phải bộ mặt thật của Bản lai diện mục của chúng ta, mà chúng mới chỉ được coi như là phương pháp phương tiện dùng độc trị độc, chứ chưa phải là pháp Vô niệm vượt thoát trong pháp môn dạy người của Lục tổ). Vậy ngay đến cái vọng tâm chúng ta chưa nhận ra được chúng, huống chi là cái chân tâm của vọng (hữu tâm) làm sao chúng ta nhận ra được? Đó là chúng ta chỉ mới đề cập đến vọng và chân thuộc hữ - vô của hữu tâm mà thôi, chứ chưa nói đến cái Vô Tâm vượt ra ngoài cái hữu - vô của ngôn ngữ biểu tượng, mà Lục Tổ đã đề cập trong bài pháp thứ ba dạy người của Ngài qua pháp "Không hai" để nói lên pháp "Vô niệm" hay "Vô tâm" sau này của ngài.
Ở đây "tâm động" của hai vị tăng chính là cái hữu tâm của vọng tâm, thuộc về "Hữu" đối lập với "Vô" mà chính chúng ta không nhận ra, nên chúng đã bị bỏ qua và, bị quên lãng để rồi chúng chạy theo cái bóng của chính nó ở bên ngoài qua các duyên được biểu hiện tác dụng theo cái vị, và những tướng trạng sai biệt được biểu hiện ra bên ngoài mà thôi, trong khi các pháp tự chúng bình đẳng trong cái Tính qua pháp không hai tức là Phật tính.Phật tính này, chúng xa lìa tất cả mọi quan niệm, mọi khái niệm, chúng không lệ thuộc vào pháp nhị nguyên nhân quả. Vì pháp nhân quả nhị nguyên chúng nói lên tính cách lệ thuộc trói buộc vào nhau, theo đó quả luôn luôn tùy thộc vào nhân mà hiện hữu. Sự hiện hữu này nói lên tính cách mất tự tại của các pháp đối với sự giải thoát mà chính đức đạo sư đã từng xiển dương. Do đó, tính không hai ở đây mang một ý nghĩa vượt thoát không còn lệ thuộc vào các pháp mặc dù chúng đang thể hiện cái dụng với nhau. Sự vượt thoát này chúng được sử dụng một cách tự tại vô ngại vào bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu. Tính không hai này cũng gọi là Phật tính. Phật tính này chúng ta cần phải thấy (kiến), như ngài đã dạy ở trên qua việc Hoàng Mai truyền dạy như thế nào khi Ấn Tông hỏi.
Ngài bảo: "Truyền dạy thì không, nhưng chỉ luận về thấy tính, chứ chẳng luận về thiền định hay giải thoát" vì thiền định và giải thoát cũng chỉ là một mặt của pháp nhị nguyên nhân hay quả mà thôi. Ở đây, bất cứ pháp nào còn bị lệ thuộc vào cái khác đều không thể gọi là pháp không hai được, như thiện căn chẳng hạn, đức Phật dạy: Một là thường còn, hai là vô thường; còn ngược lại Phật tính chẳng lệ thuộc vào thường hay vô thường. Cái nào còn lệ thuộc vào cái khác, thì cái đó còn bị trói buộc dù là thường hằng hay đoạn diệt; ngược lại cái nào không còn bị lệ thuộc vào cái khác thì cái đó được gọi là tự tại giải thoát, là không hai, là Phật tính.Trên đây là ba bài pháp đầu tiên được ghi lại, sau khi Lục Tổ Đại sư đắc pháp tại Hoàng Mai cho đến lúc ngài đắc giới (thọ giới Tỳ kheo) tại Đông Sơn, ngoài ra còn những bài pháp tùy nghi khác, không được ghi lại trong vòng mười lăm năm cùng ở với bọn thợ săn mà chúng ta không được biết. Qua đây chúng báo hiệu cho chúng ta một phương pháp dạy người, nhằm vào cuộc sống thực tiễn của môn nhân mà ngài khai triển. Pháp môn này, trước hết ngài lập Vô - Niệm làm Tông, Vô - Tướng làm Thể, và Vô - Trụ làm Gốc như chín phẩm cuối trong kinh Pháp Bảo Đàn đã ghi. Đó chính là giai đoạn từ Đông Sơn đến Tào Khê sau này đã được ngài thể hiện.II. Từ Đông Sơn đến Tào KhêSự đắc giới của Lục tổ Đại sư tại Đông Sơn, là một cái duyên trực tiếp, để đưa đến việc truyền pháp Đốn giáo, mở đầu cho một khuynh hướng thực tiễn mang đậm màu sắc Trung Hoa sau này. Giờ đây, ngài đã trở thành vị tổ thứ sáu, Thiền phái Đốn Ngộ phương Nam, của hai phái Nam - Bắc vào lúc bấy giờ, và chúng đã trở thành một trở ngại cho những người đi sau, như chính trong phẩm thứ tám Đốn - Tiệm của PHÁP BẢO ĐÀN đã đề cập:Lúc bấy giờ, cả hai tông đều thạnh hành, nên phân ra hai phái ‘Đốn - Tiệm’ khiến người học Đạo không biết theo đâu.Thật ra pháp chỉ có một chứ không hai, nhưng vì căn cơ chúng sinh có chậm có nhanh, có sáng có tối, có thông minh có ngu si, nên pháp cũng tùy thuộc vào căn cơ đó mà có Đốn - Tiệm để phù hợp với kiến giải của mỗi người. Sự kiện này được thể hiện qua hai phương pháp tu hành hoàn toàn đối nghịch nhau, qua cuộc tiếp xúc giữa Lục tổ và người đệ tử thông minh nhiều trí của ngài Thần Tú là Chí Thành, là một đơn cử cụ thể cho hai pháp này:"Sư bảo: Thầy nhà ngươi dạy chúng như thế nào?Thưa: Thầy thường dạy chúng trụ tâm quán tĩnh, ngồi mãi không nằm.Sư bảo: Trụ tâm quán tĩnh là bệnh chẳng phải Thiền. Ngồi mãi bó thân, đối với lý chả có ích gì … Ta nghe nói thầy của nhà ngươi dạy Giới - Định - Tuệ cho mọi người, nhưng ta chưa rõ hành tướng của Giới - Định - Tuệ như thế nào? Nói cho ta nghe coi.Thành thưa, Tú đại sư dạy rằng:"Các điều ác không làm là GiớiCác điều lành vâng làm là TuệTự sạch tâm ý mình là Định."Ngài dạy như vậy, không rõ Hòa thượng dùng pháp gì để dạy mọi người? …Hãy nghe bài kệ của ta:"Tâm địa không tà là Giới tự tínhTâm địa không mê là Tuệ tự tínhTâm địa không loạn là Định tự tínhKhông thêm không bớt là Kim cươngThân đến hay đi là Tam muội."Chỉ cần qua hai bài kệ này, chúng ta cũng có thể xác định được phương pháp tu của hai vị Tổ sư này. Ở đây, một bên đứng trên mặt tướng mà lập cước, và mặt kia lại đứng trên tự tính mà thể hiện. Do đó, dù muốn dù không đi nữa, chúng ta không thể phủ nhận sự sai biệt trên lập trường về Giới - Định - Tuệ của hai ngài, mà qua đó chúng lệ thuộc vào căn cơ của người được tiếp độ. Chính Lục tổ dạy:Giới - Định - Tuệ của thầy nhà ngươi dạy, chỉ để tiếp độ người Đại thừa, còn Giới - Định - Tuệ của ta dạy, là để tiếp độ những bậc Tối thượng thừa. Sở dĩ ngộ - giải không đồng, vì kiến giải có chậm có nhanh. Nhà ngươi thấy ta nói có giống thầy nhà ngươi không? Ta nói pháp không lìa tự tính. Nếu lìa bản thể mà nói pháp, tức chỉ nói đến hiện tướng, còn tự tính vẫn mê. Phải biết muôn pháp, tất cả đều tự tự tính mà khởi lên hiện tượng tác dụng, đó là pháp Giới - Định - Tuệ chân thật.Đây chính là tư tưởng chỉ đạo mấu chốt, để đưa đến pháp dạy người qua "Vô niệm" của ngài. Tuy ngài đã từng bảo: "Nếu bảo rằng ta có pháp để trao cho người, thì ra ta nói dối với ngươi. Nhưng ta tùy theo chỗ trói buộc mà mở trói, tạm gọi là Tam muội." Tam muội ở đây, chính là pháp Vô niệm của Lục tổ. Từ tự tính khởi lên (Vô niệm) hiện tượng tác dụng để muôn pháp hiện hữu trong cái Tam muội Vô niệm ấy. Đây chính là sự thể hiện của tự tính qua thật tướng của muôn pháp, mà Vô niệm chính là con đường Trung đạo để hành giả thể hiện bước đi của mình. trong phẩm Định - Tuệ thứ tư, Lục tổ đã thể hiện con đường này qua Định - Tuệ, Sư dạy chúng:Thiện tri thức! Pháp môn này của ta lấy Định - Tuệ làm gốc. Đại chúng chớ lầm bảo rằng Định - Tuệ khác nhau. Định - Tuệ cùng một thể chẳng phải hai. Định là Thể của Tuệ, Tuệ là Dụng của Định. Khi có tuệ thì định ở trong tuệ, khi đã có định thì tuệ ở trong định. Nếu biết được nghĩa này thì Định - Tuệ cùng học.Con đường này vượt qua khỏi con đường nhân quả của Giới - Định - Tuệ. Ở đây, không còn có việc ‘ nhân Giới sinh Định, nhân Định phát tuệ’ mà chúng được thể hiện qua định thức Duyên khởi "cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không, cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt." Đây là con đường của hiện khởi tùy duyên. Nơi nào có Giới thì nơi đó có Định - Tuệ, nơi nào có Định thì nơi đó có Giới - tuệ, nơi nào có Tuệ thì nơi đó có Giới - định. Sự hiện hữu của chúng cùng lúc bắt đầu và chung cuộc. Sự hiện hữu của chúng luôn luôn tùy thuộc tất yếu vào nhau, không có cái nào trước, cái nào sau cả.Ở đây, chúng ta nếu muốn tìm hiểu, phân tích chúng, thì sẽ không đạt được những gì mà chúng ta muốn. Bởi vì chúng luôn luôn sống động và biến dịch theo duyên, do đó chúng ta bắt chúng dừng lại, rồi cắt xén chúng thành những mảnh vụn manh mún, trong cái dòng biến dịch sống động này, để định nghĩa tìm hiểu, thì những mảnh vụn bị chúng ta cắt ra đó, trước hết chúng là những sự kiện hiện thực chết, bất động, không hồn; sau nữa chúng không mang bất cứ một ý nghĩa nào của dòng sống, vì chúng đang bị cô lập, đang bị cắt xén, đang bị phân hủy. Chúng không còn là cái Đang - là của dòng biến dịch luôn luôn mới toanh này.
Cho dù chúng ta đứng trên một giả lập tương đối, mang tính phổ quát đối với thời gian, mà tìm hiểu hay phân tích đi chăng nữa, chúng đã được giả định tùy thuộc vào nhau trong một cái toàn thể nhất định như vấn đề: "Định là thể của Tuệ, Tuệ là Dụng của Định" chẳng hạn, chứ không phải là cái riêng rẽ. Thật ra ở đây, vì đứng trên mặt tương đối của ngôn ngữ nên có sự liên hệ Duyên khởi của Thể và Dụng vậy thôi. Nhưng nếu đứng trên mặt toàn thể, thì chúng chỉ là một, không hai không khác. đây chính là sự liên hệ mấu chốt, làm cơ bản nền tảng cho pháp dạy người của Lục tổ Đại sư qua pháp môn "Vô niệm" của ngài."Thiện tri thức! Pháp môn này của ta từ trên xuống dưới, trước hết lập Vô niệm làm Tông, Vô tướng làm Thể, Vô trụ làm Gốc."Pháp môn này là con đường Trung đạo, theo đó Vô niệm được coi như là một phương pháp vượt thoát giữa những đối cực của cuộc sống. Chúng vượt qua khỏi mọi hệ thống tương đối có giá trị trên mặt nhân quả, để từ đó tạo cho hành giả một bước đi mới qua tùy duyên, không can hệ lệ thuộc vào các đối cực lưỡng biên tà kiến. Ở đây, chúng tôi hơi dài dòng một tí, là phải trích dẫn những gì mà chính ngài đã dạy về con đường Vô niệm Trung đạo này, mặc dù ngài có đề cập đến Vô tướng, Vô trụ. Nhưng điều này chúng chỉ làm sáng tỏ thêm sự thể hiện Vô niệm ở trong chúng, để tùy thuộc vào Thể - tướng - dụng mà qua đó chúng đã thể hiện theo duyên thôi."Vô tướng là ở trong niệm mà không niệm. Vô trụ nghĩa là bản tính của con người đối với những việc thiện ác, tốt xấu cho đến kẻ oán người thân ở thê gian; hoặc khi nói năng xúc phạm, khinh khi tranh chấp, đều coi như không, chẳng nghĩ đến việc trả thù hại người. Từng niệm không nghĩ đến những cảnh đã qua. Nếu niệm trước đến niệm này qua niệm sau, mà niệm nối tiếp nhau không dứt, đó gọi là trói buộc. Đối với các pháp, niệm - niệm không trói buộc, vì vậy nên lấy Vô trụ làm gốc là vậy."Thiện tri thức! Bên ngoài lìa tất cả tướng gọi là Vô tướng. Lìa khỏi tướng thì Thể pháp thanh tịnh, vì thế nên lấy Vô tướng làm Thể."Thiện tri thức! Đối với các cảnh, tâm không đắm nhiễm, thì gọi là Vô niệm …"Thiện tri thức! Vì sao lập Vô niệm làm Tông? Vì người mê miệng chỉ biết nói thấy tính, nhưng đối với cảnh thì sinh vọng niệm. Từ vọng niệm khởi lên tà kiến, rồi từ đó tất cả những trần lao vọng tưởng sinh ra. Tự tính vốn không có một pháp nào để được. Nếu có đạt được thì đó cũng chỉ là thứ họa phước phịa nói mà thôi. Đó chính là trần lao tà kiến, cho nên pháp môn này lập Vô niệm làm Tông."Qua pháp môn lấy Vô niệm làm Tông, Vô tướng làm Thể, Vô trụ làm Gốc, Lục tổ nói lên được tác dụng của Thể - Dụng nhiệm mầu của các pháp, mà ở đó chúng tùy theo duyên mà thể hiện. Từ đây mọi hiện tượng tác dụng đều khởi lên từ tự tính, do đó mọi hiện tượng đều mang vào chúng một toàn thể vô phân biệt, vô chấp. Những tác dụng ở đây tự tại, thông suốt, không bị trói buộc. Đây là hiệu quả tác dụng của con đường Trung đạo Vô niệm thể hiện. Con đường này đã được Lục tổ diễn tả như sau:"Thiện tri thức! Vô là Vô cái gì? Niệm là niệm vật chi? Vô là không có hai tướng, không có những tâm trần lao. Niệm là niệm bổn tính chân như. Chân như là thể của niệm, niệm là dụng của chân như. Tự tính chân như khởi niệm, chứ không phải mắt, tai, mũi, lưỡi khởi niệm. Vì chân như có tính nên khởi niệm, nếu chân như không có tính thì mắt, tai, màu sắc, âm thinh sẽ bị hoại tức khắc."Thiện tri thức! Khi tự tính chân như khởi niệm, thì sáu căn có thấy, nghe, hiểu biết, nhưng vẫn không nhiễm vào muôn cảnh. Vì tính chân như luôn luôn tự tại, nên kinh dạy: Thường khéo phân biệt các pháp, nhưng đối với Đệ nhất nghĩa vẫn bất động."Hay trong phẩm thứ hai Bát nhã, Lục tổ cũng đề cập đến vấn đề này. Để làm sáng tỏ và dễ hiểu hơn Lục tổ tự đặt vấn đề đối với Vô niệm và tự trả lời."Sao gọi là Vô niệm? Là thấy tất cả mọi pháp mà tâm không đắm nhiễm, thì đó gọi là Vô niệm. Nó diệu dụng khắp nơi, nhưng không dính mắc vào bất cứ chỗ nào. Chỉ cần thanh tịnh bản tâm, để cho sáu thức khi tiếp xúc với sáu trần qua sáu căn không bị tạp nhiễm, đến đi tự do, thể dụng không vướng mắc. Đó là Bát nhã tam muội tự tại giải thoát, cũng gọi là hạnh Vô niệm. Nếu trăm việc không nghĩ tới, thì sẽ khiến cho niệm mất. Như thế là pháp bị trói buộc buộc, gọi là thấy một bên."Qua cách đặt vấn đề này, Lục tổ cho chúng ta một cái nhìn đặc trưng về Vô niệm, mà ngài sợ rằng mọi người sẽ hiểu lầm về từ Vô niệm này. Vì đứng về mặt tích cực tác động hiện tượng, hình như chúng không có bất cứ một giá trị hết ngoài vấn đề phủ nhận. Nhưng đứng về mặt tiêu cực chúng đang hình thành một tác động vượt thoát, mà ở đó chúng đang tác động tối đa cho bước đi tự tại của mỗi chúng ta. Vô niệm ở đây hoàn toàn không có nghĩa là không nghĩ gì hết, mà ngược lại ở đây cái nghĩ luôn luôn vẫn hiện hữu, nhưng không chấp vào bất cứ đối tượng nào trong cũng như ngoài. Cái hiện hữu ở đây tùy duyên, nhưng không trụ vào duyên, vì vậy mà chúng trở thành tự tại trong dòng biến dịch của các pháp. Theo ngài nếu trăm việc không nghĩ tới thì khiến cho niệm mất, như vậy thì chúng rơi vào pháp trói buộc của đoạn diệt, cũng gọi là cái thấy một bên. Trong phẩm thứ hai Bát nhã, Lục tổ viết:"Thiện tri thức! Nếu dùng trí tuệ quán chiếu thì sẽ thấu triệt rõ ràng trong ngoài, và tự biết bổn tâm. Khi đã biết bổn tâ thì đó là nền tảng của giải thoát. Nếu đã được giải thoát tức là đã đạt được Bát nhã tam muội, đó là Vô niệm."Ở đây, theo Lục tổ thì Bát nhã tam muội chính là Vô niệm, là giải thoát, là mở trói. Từ đó cho chúng ta một cái nhìn căn để hơn về một nền tảng giải thoát, mà ở đó không có bất cứ một sai biệt nào giữa Giới - Định - Tuệ, khi con đường Trung đạo Vô niệm được thể hiện. Vì Giới - Định - Tuệ có được chỉ tùy thuộc vào giá trị nhân quả, trong khi Vô niệm không tùy thuộc vào bất cứ giá trị nhân quả nào. Cho dù trên mặt tướng trạng tạm phân biệt để đánh giá nó một cách tạ thời qua Thể - Tướng - Dụng đi nữa, thì sự đánh giá này vẫn tùy thuộc vào các duyên. Khi các pháp còn lệ thuộc vào nhau để hiện hữu, thì pháp này được giáng xuống hàng giá trị nhân quả trói buộc, chưa phải là giải thoát.Tóm lại, con đường Vô niệm Trung đạo là con đường tóm thâu tất cả mọi con đường trong kinh Pháp Bảo Đàn, qua đó được phân chia thành mười chương. Trong mười chương này Lục tổ có đề cập đến nhiều vấn đề để khế hợp với từng căn cơ hành giả, nhưng trên thực tế chúng vẫn quy về một mối, đó là con đường Trung đạo Vô niệm vượt thoát, được thể hiện trong từng bước đi của mỗi môn nhơn đệ tử xuất gia cũng như tại gia.Đại LãnNguồn phatgiao.org
Cập nhật lúc 20:53 03/11/2016 (GMT+7)
(PGVN)Sáng ngày 03/11/2016, đoàn từ thiện Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng (Thanh Hoá) do ĐĐ.Thích Thông Tánh làm trưởng đoàn, phối hợp với Thiền viện Trúc Lâm Yên Thành (Nghệ An) đã tới thăm và trao 200 phần quà cho người dân vùng lũ huyện Thanh Chương. Mỗi phần quà gồm 10kg gạo,1 thùng mì, thuốc bổ và 400 nghìn đồng tiền mặt cho người dân 3 xã Thanh Khai, Thanh Dương và Xuân Tường của huyện Thanh Chương (Nghệ An) bị thiệt hại trong đợt mưa lũ vừa qua.
| | | |
Những món quà đầy ý nghĩa mà đoàn tăng, ni, phật tử trao tặng đã phần nào sẻ chia những khó khăn, mất mát, giúp người dân ổn định cuộc sống sau những thiệt hại do mưa lũ gây ra.Hữu Tình
on: June 10, 2016In: Featured, Người Việt Năm Châu
11 giờ 30 sáng ngày thứ Bảy 28-5, tại Hội trường chùa Liên Hoa, phòng triển lãm tranh với chủ đề “Phật và Sen” đã được tổ chức, với rất đông Phật tử và những người yêu thích môn hội họa đến thưởng lãm.Triển lãm kéo dài 2 tuần lễ, tới ngày 12-6.Trong Phật và Sen có khoảng 500 tác phẩm với nhiều thể loại: Tranh sơn dầu, tranh xếp thủ công, tranh vẽ trên trứng với đề tài Phật giáo, kỹ thuật làm hoa lụa, thư pháp Việt, đặc biệt nhứt là bộ đá thiên nhiên về nghệ thuật đạo Phật.Nhóm họa sĩ – nghệ nhân gồm có 4 người: Hoàng Đăng – Hoàng Thanh – Hoàng Trang, đặc biệt có họa sĩ tí hon Hải Vân lần đầu tiên tham gia triển lãm, họa sĩ Hoàng Thanh và Hoàng Trang từ VN qua tham gia.Họa sĩ Hải Vân, 11 tuổi, là con gái của ông Hoàng nguyên Đức và Bác sĩ Hồ Ngọc Trâm, hiện học lớp 6 trường Village School, Houston, Texas. Hải Vân đam mê nghệ thuật từ nhỏ và đã theo học nghành hội họa tại Houston Museum of Fine Arts, trong mỗi kỳ nghỉ hè.Các họa sĩ nghệ nhân Hoàng Đăng -Hoàng Thanh -Hoàng Trang là những nghệ sĩ sáng tác nghệ thuật Phật Giáo một cách xuất sắc, đầy chất sáng tạo.Bạch CúcNguồn thoibao.com
28/12/2015 10:44:00Việt Nam có nhiều ngôi chùa cổ trên 100 tuổi, không chỉ gắn liền với đời sống tín ngưỡng nhân dân từ xa xưa mà còn là địa điểm du lịch tâm linh hấp dẫn du khách.1. Chùa Một Cột (Hà Nội)
| | | Ảnh: Internet |
Biểu tượng của Thủ đô Hà Nội – chùa Một Cột (hay chùa Mật) còn có tên gọi khác là Diên Hựu Tự hoặc Liên Hoa Đài.Đây là ngôi chùa có kiến trúc độc đáo ở Việt Nam, chỉ có một gian nằm trên một cột đá giữa hồ Linh Chiểu nhỏ có trồng hoa sen. Tương truyền, năm 1049, vua Lý Thái Tông đã mơ thấy được Phật bà Quan Âm ngồi trên tòa sen dắt vua lên toà. Khi tỉnh dậy, nhà vua kể chuyện đó lại với bày tôi và được nhà sư Thiền Tuệ khuyên dựng chùa, dựng cột đá như trong chiêm bao, làm toà sen của Phật bà Quan Âm đặt trên cột như đã thấy trong mộng và cho các nhà sư đi vòng xung quanh tụng kinh cầu kéo dài sự phù hộ, vì thế chùa mang tên là Diên Hựu.2. Chùa Thiên Trù (Chùa Hương) - Hương Sơn (Hà Tây)
| | | Ảnh: Internet |
Chùa Thiên Trù (Chùa Hương) là một danh lam thắng cảnh ở Việt Nam, nằm ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, cách Hà Nội khoảng 60 km, ven bờ phải sông Đáy. Nơi đây bao gồm quần thể văn hóa - tôn giáo Việt Nam, nổi tiếng với hàng chục những ngôi đền, chùa...Theo sách "Hương Sơn Thiên Trù thiên phú", chùa Hương được xây dựng từ đời Lê Huy Tông (1680-1705). Ở chùa có tấm bia cổ dựng vào năm 1686, nói về việc nhà sư Viên Quang có công sửa sang động báu Hương Tích và xây dựng ngôi chùa Ngoài. Có 2 ngọn tháp đáng chú ý là tháp Thiên Thuỷ - một khối đã nước mưa bào mòn và tháp Viên Công xây bằng gạch cổ.3. Chùa Dâu (Bắc Ninh)
| | | Ảnh: Internet |
Chùa Dâu (hay còn có tên Thiền Định, Duyên Ứng, Pháp Vân) là ngôi chùa đầu tiên của Việt Nam được khởi dựng vào đầu thế kỷ thứ III, nằm ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 30 km.Đây là ngôi chùa được coi là có lịch sử hình thành sớm nhất và là trung tâm cổ xưa nhất của Phật giáo Việt Nam. Chùa còn được người dân gọi với những tên gọi khác nhau như chùa Cả, Cổ Châu tự, Diên ứng tự. Chùa là một danh lam bậc nhất của xứ kinh Bắc xưa nay. Đây cũng là một di tích quốc gia đặc biệt của Việt Nam được xếp hạng đợt 44. Chùa Côn Sơn (Hải Dương)
| | | Ảnh: Internet |
Toạ lạc ở thị xã Chí Linh, Hải Dương, chùa Côn Sơn được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam xếp hạng quốc gia đợt I năm 1962 và xếp hạng đặc biệt quan trọng vào năm 1994. Đây là di tích quan trọng thuộc khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc.Chùa có từ thời Trần, được dựng ở chân núi phía Nam, tên chữ là Tư Phúc Tự. Chùa được trùng tu mở rộng từ đời Lê, tương truyền có tới 83 gian nguy nga đồ sộ. Ngày nay, chùa Côn Sơn chỉ còn là ngôi chùa nhỏ, có tên gọi khác là chùa Hun và còn lưu giữ nhiều pho tượng cổ có giá trị.5. Chùa Keo (Thái Bình)
| | | Ảnh: Internet |
Chùa Keo ở thôn Dũng Nhuệ, xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, Thái Bình. Chùa có tên chữ là Trần Quang Tự, là một trong những ngôi chùa cổ ở Việt Nam được bảo tồn hầu như nguyên vẹn kiến trúc 400 năm tuổi.Ngôi chùa hiện nay được trùng kiến vào năm 1930. Chùa còn lưu giữ được nhiều di vật và đồ thờ quý giá như Đại hồng chung đúc từ đời Lê, đôi lọ sứ Bát Tràng, bàn hương án... Đặc biệt nhất là Gác chuông của chùa - một kỳ công về mặt nghệ thuật kiến trúc. Gác gồm 3 tầng, cao 11,50m, mỗi tầng treo một quả đại hồng chung. Gác chuông trong như đoá sen mới nở vươn lên bên những thân cau cao vút.6. Chùa Bái Đính (Ninh Bình)
| | | Ảnh: Internet |
Chùa Bái Đính nơi linh thiêng và nổi tiếng không chỉ trong nước mà còn trong khu vực. Đây là một quần thể chùa giữ nhiều kỷ lục Việt Nam như: chùa có diện tích lớn nhất, tượng Phật bằng đồng lớn nhất, chùa có nhiều tượng La Hán nhất và nhiều cây bồ đề nhất... Chùa thuộc xã Gia Sinh - Gia Viễn - Ninh Bình, cách thành phố Ninh Bình 15 km và cách Hà Nội 95 km.Chùa Bái Đính cổ (Bái Đính cổ tự) nằm cách điện Tam Thế của khu chùa mới khoảng 800m về phía nam. Nơi đây nằm ở vùng đất hội tụ đầy đủ yếu tố nhân kiệt theo quan niệm dân gian Việt Nam, đó là đất sinh Vua, sinh Thánh, sinh Thần. Năm 1997, chùa được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa - cách mạng cấp quốc gia. Mặc dù có lịch sử hình thành từ thời Đinh với đền thờ Cao Sơn trấn phía tây Hoa Lư tứ trấn, nhưng chùa Bái Đính cổ có nhiều chi tiết kiến trúc và cổ vật mang dấu ấn đậm nét của thời Lý.7. Chùa Báo Quốc (Thừa Thiên - Huế)
| | | Ảnh: Internet |
Chùa tọa lạc trên đồi Hàm Long, kiệt 1, đường Báo Quốc, phường Phường Đúc, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Ban đầu (XVII) chùa có tên là Hàm Long Sơn Thiên Thọ Tự, sau đó (năm 1747) mang tên "Sắc Tứ Báo Quốc Tự” do Võ vương Nguyễn Phúc Khoát ban. Đến năm 1808, Hoàng hậu Hiếu Khương cho tái thiết lại ngôi chùa, đổi tên là chùa Thiên Thọ. Năm 1824, vua Minh Mạng ngự thăm chùa và sắc lấy tên "Báo Quốc Tự”. Năm 1940, trường Cao đẳng Phật học được mở tại chùa Báo Quốc, chùa trở thành một trung tâm đào tạo tăng ni cho đến ngày nay.8. Chùa Đại Tòng Lâm (Bà Rịa - Vũng Tàu)
| | | Ảnh: Internet |
Chùa Đại Tòng Lâm có tên đầy đủ là Vạn Phật Quang Đại Tòng Lâm Tự, nằm trên địa phận ấp Quảng Phú, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu. Là một ngôi đại tự có nhiều công trình quy mô và hiện đại, nắm trong tay nhiều kỷ lục Việt Nam như ngôi chính điện lớn nhất Việt Nam, tượng Phật nhiều nhất Việt Nam, pho tượng Phật Di-lặc nguyên khối bằng đá hoa cương lớn nhất Việt Nam...Năm 1958, chùa được Hòa thượng Thích Thiện Hòa từ chùa Ấn Quang (Thành phố Hồ Chí Minh) đến khai sơn với mục đích xây dựng nơi đây thành một đại tòng lâm có quy mô lớn, tiến đến mở Phật học viện, quy tụ tăng ni khắp nơi về tu học, đào tạo lực lượng kế thừa thực hiện sự nghiệp hoằng pháp độ sinh. Năm 1978, sau khi ngài mất, ý nguyện này vẫn được các vị trụ trì kế tục thực hiện.
9. Chùa Giác Lâm (TP.HCM)
| | | Ảnh: Internet |
Chùa Giác Lâm còn có tên gọi khác là Cẩm Sơn, Sơn Can hay Cẩm Đệm, toạ lạc ở số 118 đường Lạc Long Quân, quận Tân Bình. Đây là một trong những ngôi chùa cổ nhất của TP HCM, là tổ đình của phái Thiền Lâm Tế tông ở miền Nam.
Chùa ban đầu có tên là Sơn Can đến năm 1774, thiền sư Phật Ý - Linh Nhạc (trụ trì chùa Từ Ân) đã cử đệ tử của mình là Thiền sư Tổ Tông-Viên Quang (gọi tắt là Viên Quang) về trụ trì chùa, đồng thời đổi tên chùa thành Giác Lâm. Chùa được xây theo kiến trúc hình chữ “Tam” gồm chánh điện, giảng đường và nhà giám trai. Hai bên chánh điện là 2 bộ Thập Bát La Hán (bộ lớn và bộ nhỏ).
Chùa có tất cả 133 pho tượng bằng danh mộc được sơn son thếp vàng. Tất cả những pho tượng, các bộ bao lam, bàn ghế, bài vị, các tháp mộ cổ... đều được chạm khắc cực kỳ tinh xảo.Trang ĐàmNguồn timeoutvietnam.vn
09/04/2016 12:00 GMT+7Đại lễ cung nghinh tượng Phật Ngọc nhằm tôn vinh giá trị đạo đức tốt đẹp và truyền thống tự hào dân tộc...Tối 8/4, tại chùa Hồng Phúc, phường Bắc Sơn, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng đã diễn ra Đại lễ Chiêm bái Phật Ngọc Hòa bình thế giới. Đây là địa điểm dừng chân cuối cùng sau khi đi qua gần 60 quốc gia trước khi tôn tượng quay trở về Úc an vị vĩnh viễn.Đại lễ cung nghinh tượng Phật Ngọc nhằm tôn vinh giá trị đạo đức tốt đẹp và truyền thống tự hào dân tộc xây dựng một nước Việt Nam có thế và lực trên trường quốc tế. Đồng thời phát huy và nâng cao những giá trị lịch sử văn hóa, tâm linh của ngôi cổ sơn tự Hồng Phúc.Phật tử, du khách thập phương sẽ được chiêm bái pho tượng và tham gia các chương trình thuyết pháp với chủ đề Phật giáo và hòa bình thế giới, Thiền và cuộc sống, thắp nến cầu nguyện quốc thái dân an.Chú thích ảnhPhật Ngọc hòa bình thế giới được lấy ý tưởng từ tượng Phật Thích Ca Mâu Ni bên trong Bảo Tháp Đại Bồ Đề ở Bồ Đề đạo Tràng (Ấn Độ). Đây là pho tượng được làm từ khối ngọc thạch Nephirite quý hiếm, có màu xanh lá cây đẹp chưa từng thấy, nặng 18 tấn được tìm thấy tại miền Bắc Vancouver - Canada năm 2000.Năm 2008, Phật Ngọc được hơn 30 nhà điêu khắc chế tác và chạm thành pho tượng cao 2 mét 7 và nặng 4,5 tấn. Tượng được đặt ngồi trên một ngai vàng thạch cao khoảng 1.4 mét, kích thước và vẻ đẹp của tượng Phật Ngọc được coi là một kỳ quan của thế giới.Thượng tọa Thích Tục Khang - Phó Trưởng ban Trị sự kiêm Trưởng ban Phật giáo Quốc tế Giáo hội Phật giáo Việt Nam TP Hải Phòng, trụ trì chùa Hồng Phúc niệm cầu nguyện bình an và thắp nến tri ân cầu nguyện thế giới hòa bìnhVới niềm tin mang bình an lại cho con người ở khắp nơi trên thế giới, trung tâm Phật giáo Atisha (Australia) với sự hợp tác của các đạo tràng ở nhiều quốc gia đã khởi xướng cung nghinh tôn tượng Phật Ngọc chu du triển lãm tại nhiều quốc gia trên thế giới. Đây là cơ hội duy nhất và cuối cùng cho Chư tăng, Phật tử và nhân dân TP Hải Phòng cũng như các tỉnh, thành lân cận vùng đồng bằng Bắc Bộ được vinh dự chiêm bái pho tượng từng được triển lãm vòng quanh thế giới từ năm 2009./.Phạm Phong/VOV Đông BắcNguồn Baomoi.com
Cập nhật lúc 09:44 06/04/2016 (GMT+7)
(PGVN)Cư sĩ Thein Sein đã trở thành Tăng sĩ Phật giáo Myanmar, và bắt đầu khóa tu 5 ngày tại Tu viện Dhamma Dipati Monastery bên ngoài Pyin Oo Lwin, một địa điểm nằm gần Mandalay ở miền Trung của Myanmar.
Cư sĩ Thein Sein, mới bàn giao chức Tổng thống Myanmar vào thứ Năm tuần trước.Theo Bộ Truyền thông và Công nghệ Thông tin Myanmar nước này; cựu Tổng thống vừa rời nhiệm sở của Myanmar, cư sĩ Thein Sein đã thế phát xuất gia, mặc áo cà sa tại thiền viện của Ngài Nandamalabhivamsa, viện trưởng Trường đại học Hoằng Dương Phật Giáo Nguyên Thủy Quốc Tế (Int'l Theravada Buddhist Missionary University), Pin Oo Lwin, Mandalay, Myanmar để bắt đầu một khóa tu ngắn.
Cư sĩ Thein Sein đã trở thành Tăng sĩ Phật giáo Myanmar, bắt đầu khóa tu 5 ngày tại Tu viện Dhamma Dipati Monastery bên ngoài Pyin Oo Lwin, một địa điểm nằm gần Mandalay ở miền Trung của Myanmar.Cựu Tổng thống Myanmar không đưa ra lời bình luận cá nhân nào về lựa chọn tạm thời này, nhưng thông báo cho hay ông đã cân nhắc việc này ít nhất bắt đầu từ tháng Giêng năm nay, khi ông tham dự một Hội nghị Phật giáo ở Myanmar.Theo thông báo của Bộ Truyền thông và Công nghệ Thông tin Myanmar cho biết: "Gần đây, Hòa thượng đáng kính nhất của đất nước, ngài Sitagu, đã hối thúc cựu Tổng thống Thein Seain đi tu khi ông (Thein Sein) tham dự một Hội nghị Phật giáo.Cư sĩ Thein Sein đã nói với Hòa thượng Sitagu rằng ông còn bận với các công việc của một Tổng thống và hứa sẽ đi tu sớm nhất có thể sau khi ông kết thúc nhiệm kỳ Tổng thống."Gần đây, Hòa thượng đáng kính nhất của đất nước, ngài Sitagu, đã hối thúc cựu Tổng thống Thein Seain đi tu khi ông (Thein Sein) tham dự một Hội nghị Phật giáo.Hôm thứ Ba, một phóng viên của Ban BBC Miến Điện cho hay việc người dân là phật tử chọn một thời điểm trong đời của mình để xuống tóc đi tu là 'bình thường' theo truyền thống của nước này.
| | | |
"Đây là một việc làm bình thường và theo truyền thống, bất cứ một người trưởng thành nào theo Phật giáo cũng có thể chọn một thời điểm trong đời của mình để thực hiện việc này."Cư sĩ Thein Sein trước đó còn làm Tổng thống, nay ông đã nghỉ và ông đã tìm ra thời gian của mình để làm công việc này," vẫn theo phóng viên của Ban BBC Miến Điện.Ông Thein Sein, 71 tuổi, một cựu tướng lĩnh, đã đảm nhận vai trò Tổng thống trong một nhiệm kỳ 5 năm vào năm 2011 để lãnh đạo một chính phủ có danh nghĩa dân sự, sau khi phe quân sự chấm dứt một nửa thế kỷ nắm quyền bính toàn bộ.Tháng 11 năm ngoái, Myanmar lần đầu tiên tổ chức bầu cử tự do sau nhiều thập niên và Đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) của bà Aung Sang Suu Kyu đã giành thắng lợi 'long trời lở đất'.Cư sĩ Htin Kyaw đã được đảng NLD của bà Aung Sang Suu Kyu chọn tiếp quản chiếc ghế Tổng thống Myanmar từ tay Cư sĩ Thein Sein.Cư sĩ Thein Sein tiếp tục lãnh đạo cuộc chuyển giao quyền lực cho tới khi Tổng thống Htin Kyaw, người được bà Suu Kyi lựa chọn, lên nắm chiếc ghế quyền lực này vào hôm thứ năm tuần trước.Nữ Cư sĩ Suu Kyu đã đảm nhận các vị trí đặc biệt trong tân chính phủ dân sự, do bà không được phép làm Tổng thống với lý do có con cái có quốc tịch nước ngoài, theo Hiến pháp hiện hành của Myanmar.
| |
Tại Hội nghị Hòa bình Tôn giáo Thế giới tại Học viện Quốc tế Sitagu, Myaanmar, Cư sĩ Thein Sein, Tổng thống Myanmar trân trọng tiếp đón hàng trăm Đại biểu Phật giáo khắp nơi trên thế giới về dự lễ khai mạc Hội nghị Hòa bình Tôn giáo Thế giới tại thành phố Sagaing, Tổng thống Myanmar kêu gọi các nhà lãnh đạo đoàn kết lên án chủ nghĩa cực đoan càng ngày gia tăng khi đối mặt với phân cực Tôn giáo.Trong những gì có thể đóng góp cho tiếng nói chung của Tôn giáo Dân tộc, và một trong những lần phát biểu cuối cùng của ông, bài phát biểu công khai của Nhiệm kỳ của ông kết thúc vào cuối tháng 03/2016, cư sĩ Thein Sein, Tổng thống Myanmar cho biết: “Tôi rất hoan hỷ và thúc giục các nhà lãnh đạo Tôn giáo trên thế giới, các nhà lãnh đạo Chính trị và các nhà lãnh đạo Quốc gia trên thế giới, đồng tham gia góp phần hướng dẫn tín đồ tôn giáo tránh xa chủ nghĩa cực đoan”.
| | | |
| |
| |
| |
| |
| |
Vân Tuyền(nguồn: khaosodenglish)Nguồn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam - http://phatgiao.org.vn/
Cách làm nem lụi chay ăn ngay cho nóng hổiNem lụi chay là một món ăn có vẻ khá mới lạ đối với nhiều người, với sự kết hợp đơn giản toàn rau củ cùng đậu phụ thanh mát cũng có thể tạo nên một món ăn ngon cho những người ăn chay rồi.Nguyên liệuCách làm món nem lụi chay không hề khó chút nào, bạn có thể dễ dàng làm được món ăn này để thay đổi khẩu vị cho cả nhà những khi ngán ngẩm mấy món cá thịt nhiều mỡ. Nem lụi chay không chỉ hấp dẫn bởi màu sắc bắt mắt mà còn rất ngon nữa đấy. Cùng học cách làm nem lụi chay ngay hôm nay cho cả nhà mình thưởng thức nhé!Bạn cần chuẩn bị những nguyên liệu sau cho cách làm nem lụi chay:+ 150g mỳ căn tươi+ 7 -10 củ sả+ 2 thìa cà phê dầu vừng+ 1 thìa cà phê tiêu bột+ 2 thìa cà phê dầu điều+ 2 thếp bánh tráng+ 1 quả dứa chín+ 2 quả chuối xanh+ 1 quả dưa chuột+ 1 củ cà rốt+ 100g lạc rang+ Gia vị: hạt nêm chay, nước mắm chay , dầu ăn, tương ớt chay, đường kính, chanh.+ Rau thơm: xà lách, húng láng, húng bạc hà, rau mùi..., bánh tráng để cuốn.
*Nguyên liệu cho cách làm nem lụi chay*
* 1Bước đầu tiên bạn cần làm là sả cắt gốc bóc bớt lớp vỏ ngoài, rửa sạch để ráo nước. Chuối, dứa, dưa chuột, cà rốt cắt rửa sạch cắt miếng dài vừa ăn. Rau thơm nhặt rửa sạch.
*Sả cắt gốc bóc bớt lớp vỏ ngoài, rửa sạch để ráo nước*
*Chuối dưa chuột, cà rốt cắt rửa sạch cắt miếng dài vừa ăn*
*Dứa cắt miếng dài, rau sống rửa sạch để ráo*
* 2Tiếp đến, bạn trộn mỳ căn với hạt tiêu, dầu vừng, hạt nêm, nhồi thật kĩ. Bao mỳ căn vào gốc sả sau đó cho vào xửng hấp chín. Để cho cây nem nguội, sau đó dùng chổi lông quét dầu điều lên nem.
*Bao mỳ căn vào gốc sả sau đó cho vào xửng hấp chín*
* 3Sau đó, bạn cho dầu vào chảo, dầu nóng cho nem vào rán vàng là được.
*Cho dầu vào chảo, dầu nóng cho nem vào rán vàng*
* 4Vỏ bánh tráng cuốn miếng trong quá trình ăn vừa ăn vừa kết hợp chiên giòn để tránh bị ỉu.
*Vỏ bánh tráng cuốn miếng trong quá trình ăn vừa ăn vừa kết hợp chiên giòn*
Thành phẩmNếu như nem lụi thịt có vị thơm đặc trưng của đất cố đô Huế, với nguyên liệu chính là thịt heo đã quết nhuyễn khiến bao khách phương xa xuýt xoa khi thưởng thức, thì nem lụi chay lại có vị thơm riêng của mì căn tươi và đặc trưng mùi sả thơm lừng khiến mọi người nếu được thưởng thức một lần sẽ nhớ mãi không quên.Thật đơn giản với cách làm món nem lụi chay phải không nào? Với sự kết hợp của các loại rau củ thanh mát cùng nước mắm chay đậm đà đã tạo nên một món ngon nem lụi chay tuyệt vời cho cả nhà.
*Món nem lụi chay ăn kèm với các loại rau củ chuẩn bị sẵn sẽ rất ngon*
Khi ăn bạn bày tất cả các nguyên liệu đã sơ chế ra bàn, nem lụi có thể xắt lát hoặc để nguyên que cũng được, dùng kèm với, rau, bánh tráng cuốn chấm với nước mắm chay sẽ rất ngon nhé! Thỉnh thoảng đổi gió cho cả nhà bằng món nem lụi chay để giải ngán và thanh tịnh thâm hồn cũng là một ý tưởng tuyệt vời đấy!Ngoài cách làm nem lụi chay ra, bạn có thể tham khảo thêm các món chay ngon trong chuyên mục Ẩm thực của lamsao.com.
*Chúc bạn thực hiện thành công và ngon miệng với cách làm nem lụi chay.*
Nguồn tin: lamsao
Copy to Tin giải trí khoa học
Ngoài việc trở thành một dịch giả vĩ đại của kinh điển Đại thừa, đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh đến nay đã có trên 70 năm tụng kinh. Lời khai thị của Hòa thượng dưới đây có ý nghĩa rất lớn cho người đọc tụng và thọ trì kinh để mở mang tâm trí và thâm nhập kinh tạng.
*Bạch Sư ông, tại Việt Nam, có người dùng từ đọc kinh, có người dùng từ tụng kinh. Ý nghĩa của hai thuật ngữ này thế nào?
Các huynh đệ nên hiểu “tụng” là học thuộc lòng, những khi lên chánh điện mặc áo tràng đắp y, thắp nhang lễ Phật, có chuông có mõ, mở kinh ra rồi cho đó là tụng. Kỳ thật đó không phải là tụng kinh mà chỉ là đọc kinh. Tụng kinh là phải đọc thuộc lòng kinh. Nên nhớ kỹ điều đó! Khi đã thuộc lòng rồi, mình tụng mới có lợi ích lớn. Không những lúc mặc áo tràng đắp y lên điện Phật, mà trong những khi đi đứng nằm ngồi, thỉnh thoảng những lời kinh do mình thuộc nó sẽ khởi lên trong tâm.Như người đời thuộc những bài ca mà họ ưa thích, thì những khi đi đứng nằm ngồi họ thường khe khẽ cất lên vài câu, hay trong tâm cũng thường nghĩ nhớ đến những bài ca bài hát đó. Cũng vậy, nếu mình thường niệm Phật thì nó khởi lên câu niệm Phật. Còn nếu mình thuộc lòng kinh thì những lời kinh thường hay khởi lên thì ngay lúc đó là mình đã tụng kinh rồi.
Sư ông thường dạy rằng lời Phật thật quý báu. Vậy, người tụng kinh do tôn kính lời Phật sẽ đạt được lợi ích gì?
Mỗi khi tụng kinh, mình nhớ lại những lời dạy của Phật thì đó là mình niệm Pháp. Khoảng thời gian mình tụng kinh thì những niệm phiền não, những niệm xấu, niệm ác bị đè phục nên không khởi lên; do bị đè phục nên nó yếu đi, nó đã yếu thì lúc có khởi lên cũng khởi yếu. Đây là nói phục, còn đoạn là khác nữa. Nhưng nhờ cái phục nên nó yếu. Vì yếu nên tội chướng nghiệp chướng cũng yếu dần. Khi bên tội chướng, nghiệp chướng yếu thì thiện căn công đức sẽ khởi dậy. Hai cái đó như hai cái giá cân. Nếu bên này nặng thì bên kia bị nhẹ. Nếu bên này nhẹ thì bên kia nặng, lẽ đương nhiên là như vậy. Nói cách khác, ngoài phước báu do tôn kính Phật pháp, người tụng kinh có thể làm tiêu trừ nghiệp chướng.
Trong đời tu của Sư ông, hẳn nhờ tụng kinh Sư ông ngộ ra nhiều điều. Xin Sư ông đơn cử một ví dụ về cái ngộ nhờ tụng kinh?
Nay tôi sẽ nói rõ điều này cho các huynh đệ nghe, vì thông thường ít ai nghĩ đến. Nhân khi tụng Kinh Kim Cang tôi đã khám phá ra một điều mà từ lâu suy nghĩ không biết vì sao trong kinh nói một vị Tu-đà-hoàn dứt trừ được kiến phiền não, còn tư phiền não thì chậm nhất là trong bảy đời dứt hết thành A la hán. Vị Tu-đà-hoàn không có đời thứ tám, chỉ đến đời thứ bảy là cuối cùng. Trong kinh nói rõ ràng, chứ không nói việc tu hành gì cả.Tôi thường suy nghĩ việc đó hoài, nghiệm mãi không ra. Cho đến khi tụng kinh Kim Cang đến đoạn Phật hỏi ngài Tu Bồ Đề: Vị Tu-đà-hoàn có tự nói mình là Tu-đà-hoàn không? Ngài Tu Bồ Đề đáp là không. Bởi vì Tu-đà-hoàn gọi là nhập lưu. Nói nhập mà không chỗ nhập. Không nhập vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, do đó gọi là Tu-đà-hoàn. Ngay đó tôi hoát nhiên phá giải được cái điều mà tốn không biết bao nhiêu thời gian suy nghĩ về lý do tại sao mà vị Tu-đà-hoàn không có đời thứ tám, chỉ nội trong bảy đời dứt tư hoặc chứng A-la-hán.Nghĩa là vị Tu-đà-hoàn sau khi kiến hoặc đã dứt rồi thì tâm của vị ấy không còn bị chi phối bởi sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Do không bị chi phối nên tư hoặc không có dịp phát khởi. Vì không phát khởi nên lần lần nó mòn yếu đi. Do mòn yếu nên nó dứt lần lần. Dứt một phần thì thành Tư-đà-hàm. Dứt thêm phần nữa thì thành A-na-hàm. Dứt thêm nữa cho đến dứt sạch hết thì thành A-la-hán. Nó dứt từng phần, dứt lần lần.Cũng thế, hằng ngày mình có niệm Phật tụng kinh, thì lúc đó phiền não, nghiệp chướng nó không khởi. Nó không khởi trong khoảng thời gian mình có niệm Phật, tụng kinh, chứ không phải nó luôn luôn không khởi. Nhưng có như vậy thì nó yếu lần đi. Nó yếu lần đi thì cái lành cái tốt phát triển lên thì gọi là mình có tu. Phiền não nghiệp chướng bị dằn bị phục thì thiện căn công đức phát sanh, cho đến lúc nào đó sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp không còn chi phối nội tâm mình là thành công. Mà cũng không biết đến lúc nào, bởi vì chủng tử phàm phu trong vòng sanh tử luân hồi của mình nó nặng nề lắm, phiền não nghiệp chướng nặng nề lắm. Nhưng nếu hằng ngày mình có phương pháp để dằn để phục, thì nó sẽ yếu lần lần. Bằng không nếu bị sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp chi phối thì mỗi ngày chẳng những nó không yếu mà lại mạnh thêm, thì mình càng chui đầu sâu vào vòng sanh tử luân hồi. Lẽ tất nhiên hai ngả rõ ràng như vậy. Trên đây chỉ là một ví dụ. Nếu các huynh đệ mỗi ngày đều tụng kinh thì sẽ tỏ rõ nhiều điều bổ ích. Do đó, tôi khuyên các huynh đệ siêng năng tụng kinh để thâm nhập trí Phật.
Tại Việt Nam, khi tụng kinh, các chùa còn niệm Phật. Xin Sư ông khai thị về phương pháp niệm Phật trong tụng kinh?
Tôi nói rõ để huynh đệ biết rằng tụng kinh và niệm Phật đúng cách là thật tu. Khi niệm Phật thì không duyên việc khác. Không duyên theo sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Chỉ duyên nơi âm thanh câu niệm Phật. Huân tập mỗi ngày một mạnh lên nơi hạnh niệm Phật thì những niệm sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp khác, mỗi ngày một bớt đi, vì trong khoảng thời gian đó nó không khởi được thì nó phải giảm bớt. Mà nếu thời gian niệm Phật càng ngày càng nhiều thì tất nhiên mỗi ngày mình lần lần tiến lên. Cũng như người tu thiền giữ tâm đừng cho khởi vọng, tất nhiên là làm sao cho nội tâm đừng bị chi phối bởi sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Nó không chi phối thì phiền não nghiệp chướng không do đâu mà sanh khởi. Phiền não nghiệp chướng không khởi được thì lần lần nhẹ đi, cho đến lúc nào đó cũng như cái màn che bị rách, bị tan thì ánh sáng từ trong nội tâm phát ra, gọi là tỏ ngộ. Hai đường tu dù Thiền dù Tịnh giống nhau, chứ không chi khác.
Vậy, theo Sư ông tu thật chất là không để tâm dính vào sáu trần cảnh?
Đúng vậy! Hằng ngày mình bị sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp chi phối là không có tu. Lúc nào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nó không chi phối nội tâm của mình được, thì chính lúc đó là lúc mình tu. Nên nhớ kỹ như vậy! Chứ không phải đợi đến lúc mặc áo, đắp y lên chánh điện. Mặc áo đắp y lên chánh điện, lễ Phật mà bị cảnh ngoài sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nó chi phối thì chưa phải là có tu.Pháp của Phật dạy nói cho rõ là tu tâm. Còn nơi thân và khẩu chỉ trợ giúp cho nội tâm mà thôi. Nói vậy không phải phế bỏ những thời khóa tu tập, ban đầu sức tu còn yếu thì phải nương vào thời khóa, quan trọng ở chỗ là ngoài thời khóa cũng phải tu. Do đó niệm Phật không luận là lúc đi, đứng, nằm, ngồi gì, nếu có niệm luôn thì có tu, mà bị gián đoạn là không có tu. Đó là điểm chánh yếu. Tất cả các pháp môn khác cũng đều như vậy.
Bạch Sư ông, để thâm nhập kinh tạng khi tụng kinh, người tụng phải làm gì để đạt được?
Để được như thế, khi tụng kinh phải thuộc lòng kinh. Chẳng những các thời khóa trong chùa phải thuộc mà các kinh mình thích cũng phải thuộc. Như tôi cũng vậy, thích Phổ Môn phải thuộc Phổ Môn, thích Kim Cang phải thuộc Kim Cang, thích phẩm Phổ Hiền phải thuộc phẩm Phổ Hiền, cho đến thích Pháp Hoa phải thuộc Pháp Hoa. Lúc trước mỗi ngày giữ đều đặn như vậy, riêng kinh Pháp Hoa thì mỗi ngày tụng một biến hoặc hai ngày một biến. Ai làm được như thế thì thâm nhập kinh tạng không khó.
Bạch Sư ông, người bận rộn với nhiều công việc không có thời gian để tụng nhiều thì làm thế nào có thể hiểu kinh được?
Người bận rộn có thể chọn các phần kinh quan trọng để tụng. Tôi đơn cử cách sắp thời gian của tôi trong quá khứ. Năm 1963 khởi lên việc tranh đấu với ông Diệm và năm 1964 thành lập GHPGVN Thống Nhất, tôi phải bận nhiều công việc nên mỗi ngày không có thời gian tụng kinh Pháp Hoa. Ai cũng biết tụng kinh phải tụng luôn nếu không lại quên nên không thể tiếp tục việc tụng kinh Pháp Hoa, mà chỉ giữ lại bài kệ phẩm Phương Tiện làm thời khóa cho đến bây giờ. Bài kệ phẩm Phương Tiện cũng nhiều lắm, gần 500 câu chứ đâu phải ít. Khi có thể thu xếp thời gian thì ta tụng cố định và đều đặn hơn thì mới hiểu kinh thấu đáo được.Hiện nay, thời khóa mỗi ngày của tôi nhất định phải có là: sáng sớm thức dậy tụng phẩm Phổ Hiền trong kinh Hoa Nghiêm, kinh Kim Cang, bài kệ phẩm Phương Tiện của kinh Pháp Hoa, kinh Phổ Môn, kinh A Di Đà rồi hoàn kinh niệm Phật. Nếu tụng ra tiếng thì hơn 2 tiếng đồng hồ, nếu tụng thầm thì trên dưới một tiếng rưỡi. Năm nay tôi đã 94 tuổi nên chỉ thực hiện thời khóa bằng cách tụng thầm mà thôi, chứ tụng ra tiếng thì không nỗi nữa rồi. Sở dĩ tôi nói kỹ như vậy để chúng ta biết rõ cách tu tập của mình là phải có sự liên tục hằng ngày. Không nên lúc có, lúc không.Tụng kinh niệm Phật ngoài mục đích chính yếu là vãng sanh Cực Lạc ra, còn có tác dụng hàng phục những phiền não nghiệp chướng, khiến cho những thiện căn công đức được tăng trưởng. Nếu mỗi ngày tu hành đều đặn như vậy, tất nhiên lần lần bớt đi phần phàm phu sanh tử mà tiến lần trên con đường Hiền Thánh giải thoát.
Bạch Sư ông, khi hiểu kinh rồi thì lộ trình tu bao lâu mới đạt kết quả?
Ngay đức Phật cũng phải trải qua vi trần số kiếp tu tập chứ không phải con số ức muôn mà mình thường tính toán. Phải lấy số vi trần để tính số kiếp tu hành. Rõ ràng như vậy, chính đức Phật nói chứ không ai khác. Như Phẩm Đề Bà Đạt Đa trong kinh Pháp Hoa, ngài Trí Tích Bồ tát nói: “Tôi xem trong cõi Tam thiên Đại thiên nhẫn đến không có chỗ nhỏ bằng hột cải mà không phải là chỗ của Bồ tát (chỉ cho Phật Thích Ca) bỏ thân mạng để vì lợi ích chúng sanh, vậy sau mới thành đạo Bồ đề”. Chứ không phải thường thường như chúng ta, làm được chút ít công đức gì đó mà đòi thành ông Hiền ông Thánh liền đâu. Trong kinh dạy rất đầy đủ, nhất là kinh Đại Bửu Tích nói về công hạnh của các vị Bồ tát rõ ràng lắm. Mọi người nên cố gắng tìm đọc. Tôi bây giờ phải nhờ người khác đọc để biết được công hạnh của các ngài quá khứ tu thế nào, hiện tại thành tựu thế nào.Nói chung, việc dứt trừ nghiệp chướng phiền não để ra khỏi sanh tử luân hồi không phải là chuyện dễ. Nhưng mình có tu tập đều đặn là mình có bước đi. Mà đã có bước đi là có lúc đến. Có bước một bước là có giải thoát một bước, chứ không phải đợi đến đích rồi mới giải thoát. Thường nghĩ như vậy lại thấy vui. Bởi vì biết mình mỗi ngày có bước là mỗi ngày gần thêm bờ giải thoát. Nên nhớ kỹ là vi trần số kiếp chứ không phải ít đâu. Không phải nghe nói: “Tức tâm tức Phật” rồi cho rằng thấy tâm là thành Phật. Vì nếu như vậy là mình hơn Phật Thích Ca xa lắm rồi.H.T. Thích Trí Tịnh
Ý NGHĨA CỦA SỰ TỤNG KINH – Đại đức THÍCH THIỆN THUẬN
GIÁ TRỊ CỦA SỰ TỤNG KINH – THÍCH MINH ĐẠO*Nguồn tamduyen.com